hon-tram

Tham dục, Sân hận, Hôn trầm, Trạo cử và Nghi ngờ là 5 triền cái mà có lẽ bất kỳ hành giả nào khi tọa thiền (Tịnh, Thiền, Mật) đều ít nhiều bị vướng mắc. Chính 5 chướng ngại này khiến tâm không an tịnh, lâu dần sinh chán nản làm cản trở công phu tu tiến, thoái tâm Bồ Đề. Vậy, hành giả phải làm sao để đối trị HÔN TRẦM hầu giữ cho công phu được chuyên nhất?

Như đã giảng, Thiền định không có nghĩa là Thiền mà bỏ Tịnh hay Mật, vì đó là chấp ngôn, chấp Pháp. Thiền định rốt ráo chính là Tọa thiền trực chỉ Chơn tâm (còn gọi là Tâm thiền) nhờ tâm trì miên mật Diệu Pháp Phật (câu niệm Phật, thoại đầu, mật chú), giúp hành giả tịnh hóa thân tâm, tiêu trừ nghiệp chướng, phá mê khai ngộ, liễu phàm kiến Tánh. Do đó, muốn công phu thiền định tinh tiến, tránh bị 5 triền cái nói riêng cũng như nội chướng ngoại Ma nói chung khảo đảo hoành hành thì hành giả trước hết phải:

– Gìn giữ thân tâm trong sạch cúng dường Chư Phật (trong đó, phải trường chay – tuyệt dục). Có như thế, khi tọa thiền sẽ rất ít gặp chướng ngại, chắc chắn thành tựu tu tiến (xem bài: Phật Pháp vấn đáp 31: Điều kiện cần để nhập Đạo tu hành).

– Nghiêm trì tịnh Giới! Phái cư sĩ tại gia tối thiểu phải giữ Ngũ giới hay Thập giới. Phái tu sĩ xuất gia phải tâm hành cho rốt ráo: “Tâm địa chẳng quấy Tự Tánh Giới” chớ không phải giữ 250 hay 348 điều Giới mà thôi. Hãy ghi nhớ: “Giới còn là Ta (Phật Pháp) còn”!

– Đoạn tham – sân – si, tịnh Thân – Khẩu – Ý, nhiếp phục 6 căn khi xúc duyên đối cảnh.

– Đoạn trừ tâm Sát – Đạo – Dâm – Vọng. Nếu không như thế mà thiền định thì chắc chắn sẽ lạc vào Tà Mị, quả báo hệ lụy thật khôn lường (xem bài: Quả báo của tâm Sát – Đạo – Dâm – Vọng khi tu thiền định). Hãy ghi nhớ!

– Tùy duyên hành Thập thiện, bố thí, Pháp thí, phóng sanh, chia sẻ khốn khó với tha nhân… mà vô ngã – vô cầu; lại không vì Thiện sự mà sao lãng, buông bỏ việc tu hành tự giác tự độ thì chắc chắn sẽ hỗ trợ đắc lực cho công phu thiền định nhiếp tâm mau chuyên nhất.

Khi hành thiền, nếu tâm không tỉnh giác thì hành giả sẽ rơi vào một trong ba trạng thái: Hôn trầm, Trạo cử và Vô ký không. Vậy, Hôn trầm là gì? Đó là trạng thái thiếu tập trung, mất tỉnh giác, buồn ngủ, thậm chí là ngủ gục khi tọa thiền. Nguyên do có thể là:

    1. Về thân: do sức khỏe không tốt, do lao động sinh kế khiến hao tổn nhiều sức lực, từ đó dẫn đến trạng thái mệt mỏi, uể oải, lười biếng, buồn ngủ hay ngủ gục khi tọa thiền.
    1. Về tâm: do tâm mất tỉnh giác, thiếu tập trung vào Chánh niệm khi tọa thiền khiến tâm niệm ngày càng rời rạc, niệm lực thất tán, yếu dần rồi cuối cùng mất hẳn, hành giả chìm vào hôn trầm mê ngủ.

hon-tram-2

Nên biết, thân và tâm có ảnh hưởng liên hệ mật thiết lẫn nhau. Nếu thân thể khỏe mạnh, tinh thần tỉnh táo thì khi tọa thiền, hành giả ít bị hôn trầm chướng ngại. Ngược lại, thân bệnh tâm suy chắc chắn khiến công phu nhiếp tâm rất khó chuyên nhất, hành giả ắt bị hôn trầm thụy miên.

Nếu hành giả bị hôn trầm sâu, lại diễn ra lâu ngày sẽ trở thành Thiền bệnh, không những ảnh hưởng đến sức khỏe thân tứ đại mà còn trì trệ công phu, chướng ngại tu tiến. Hệ lụy đó là: thân sinh bệnh do ngồi sai tư thế vì ngủ gục; còn tâm hành theo lối mòn trệ phược tương tự như tập khí thế gian, tức hễ hành giả tọa thiền trong phút chốc thì dù có cố gắng đến đâu cũng sẽ rơi vào ngây ngủ khó thoát. Đáng nói hơn, do thiếu tỉnh giác, nội chướng hôn trầm rất dễ chiêu cảm ngoại Ma (Tà mị…) gá thân khiển tâm dẫn dắt tu lầm, khiến hành giả không những đánh mất thành tựu huân tu gian khó mà còn lạc Đạo Bồ Đề. Vì vậy, nhận biết, tránh và điều phục chướng hôn trầm là điều tối trọng cho hành giả tu Phật tọa thiền:

    1. Giữ gìn sức khỏe. Thế gian có câu: “Một khối óc minh mẫn chỉ có được trong một thân thể tráng kiện”, huống gì là tu Phật điều phục thân tâm. Thân thể khỏe mạnh giúp tinh thần sảng khoái, trí óc minh mẫn linh hoạt sẽ hỗ trợ rất nhiều cho công phu tọa thiền nhiếp tâm. Ngược lại, ngày nào cảm thấy mệt mỏi, uể oải… thì hành giả nên nghỉ ngơi dưỡng sức, không nên gắng gượng công phu mà hiệu quả chẳng bao nhiêu, đôi khi lợi bất cập hại thân tâm.
    1. Trước khi tọa thiền, hành giả hãy rửa mặt bằng nước lạnh, uống một ngụm trà / nước nóng, vận động nhẹ tay chân cho máu huyết lưu thông, tinh thần thêm tỉnh táo. Sau đó, tiến hành lạy sám hối trước bàn thờ Phật giúp vừa giải trừ nghiệp chướng, vừa tránh được hôn trầm thụy miên có thể xảy ra sau đó khi hành thiền.
    1. Khi tọa thiền, nếu NIỆM PHẬT thì hành giả hãy tập trung tâm lực sao cho Chánh niệm nối nhau tương tục đều đặn chuyên nhất, tránh niệm chậm quá khiến tâm niệm rời rạc, niệm lực thất tán, dễ bị hôn trầm. Tâm niệm đến đâu, tai lắng nghe rõ ràng minh bạch từng từ từng chữ đến đó, trí ghi nhận khắc sâu không sót. Công phu niệm Phật miên mật như thế chắc chắn sẽ không rơi vào hôn trầm chướng ngại.
    1. Khi tọa thiền, nếu THAM TỔ SƯ THIỀN thì hành giả hãy chiếu cố thoại đầu sao cho Chánh nghi không gián đoạn. Nếu thiếu nghi tình thì “tham thoại đầu” sẽ thành “niệm thoại đầu”, công phu lạc lối. Để Chánh nghi không gián đoạn thì tâm khởi thoại đầu sao cho liên tục tiếp nối, không kẽ hở đan xen, nên gọi là “chiếu cố”. Nếu nghi tình miên mật thì chắc chắn sẽ không rơi vào hôn trầm chướng ngại.
    1. Trước khi bắt đầu rơi vào hôn trầm, thường không khó để nhận biết dấu hiệu mà kịp thời điều phục. Đó là tâm niệm mông lung rời rạc không còn chuyên nhất nữa do sự tập trung tỉnh giác bị sao lãng; niệm lực yếu dần, thất tán; tâm thái vì vậy mê mờ trệ phược…; về thân thì cảm giác buồn ngủ bao trùm, miệng hay ngáp, đầu nghiêng ngả khiến thân tọa lắc lư không còn trụ vững, tình trạng mệt mỏi càng gia tăng theo thời gian do ngồi sai tư thế sẽ làm cong vẹo cột sống (cổ, lưng), ảnh hưởng tim mạch… Lúc này, hành giả nên theo những phương cách sau để đối trị:
      1. Niệm Phật hay khởi thoại đầu bằng Miệng cho thật lớn tiếng để “vực dậy” tâm mình. Miệng niệm lớn tiếng liên tục như thế cho đến khi hoàn toàn tỉnh giác rồi mới trở về Tâm niệm như bình thường. Đây gọi là pháp Cao Thanh Trì, có công năng phá tan hôn trầm chướng trệ rất hiệu quả.
      2. Hành giả mở mắt, kéo mạnh 2 lỗ tai, sau đó xoa bóp tay chân, vai, cổ, gáy cho tỉnh.
      3. Nếu vẫn còn cảm giác buồn ngủ thì đứng lên, rửa mặt bằng nước lạnh, uống một ngụm trà / nước nóng cho tỉnh táo. Nếu hành thiền về đêm thì có thể hướng mắt về nơi có ánh sáng đèn (như bàn thờ Phật…) hay nhìn lên các vì sao, ánh trăng (nếu có) cũng giúp đẩy lùi hôn trầm thụy miên.
      4. Nếu vẫn chưa có kết quả thì hãy đi Thiền hành (hoặc lạy Phật sám hối), vừa bước (hoặc lạy Phật) vừa tâm niệm hay cao thanh niệm.
      5. Nếu các cách trên vẫn không hiệu quả thì chứng tỏ sức khỏe có vấn đề, tốt nhất hành giả hãy nghỉ ngơi dưỡng sức cho hồi phục. Sau khi khỏe lại, tâm trí minh mẫn, tỉnh táo thì mới tiếp tục hạ thủ công phu.
    1. Nếu hành thiền tại tư gia, hành giả có thể nhờ người thân để ý, nhắc nhở giúp mình nếu thấy có dấu hiệu hôn trầm như đã giảng ở trên, tránh để lặp đi lặp lại nhiều lần thành lối mòn tâm thức làm trệ phược thân tâm, chướng ngại tu tiến, thậm chí cả huệ mạng tu hành.

Một biểu hiện khác gần giống với Hôn trầm là Vô Ký Không, biểu hiện của tâm Si. Đó là do hành giả tác ý để “tâm không” mà tĩnh tọa, trăm điều chẳng nghĩ khiến cho niệm tuyệt nên rơi vào pháp trói buộc biên kiến của ngoại đạo, là một trong những Thiền bệnh mà người tu Phật tuyệt phải tránh. Tâm thái khù khờ si muội, trơ như gỗ đá trước mọi sự của Vô Ký Không quyết không phải là tịch tịnh vi diệu, vô lượng Từ Bi và Trí Huệ của Chơn tâm Giác tánh. Nó hoàn toàn khác với tâm Vô Niệm, vốn là thành tựu tu hành Kiến Tánh như đã giảng trước đây. Để tự thoát khỏi Vô Ký Không, hành giả chỉ cần nhiếp tâm niệm Phật.

Mong tất cả tỉnh tâm tu Phật!

Diệu Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật _()_
Diệu A Di Đà Phật _()_

Cổ Thiên

————————————————

Tham khảo: Đối trị trạo cử