phat-phap-van-dap-lieu-nghia-tam-bao-va-minh-dinh-phat-phap

* CÂU HỎI

Thế nào là Tam Bảo?

* PHÚC ĐÁP

Tam Bảo là 3 ngôi báu: Phật Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo.

1. PHẬT BẢO

Là Thập phương Chư Phật, những Bậc Toàn Giác tự tại giải thoát với công hạnh tự giác – giác tha – giác hạnh viên mãn, không thể nghĩ bàn.

Là Tự Tánh Phật của mỗi chúng sanh nơi khôn cùng cảnh giới khắp 10 phương. Với chúng sanh bị đọa vào địa ngục Vô Gián, hay là Thiên Chủ chúng cõi Thiên hoặc là Vua của các cảnh giới siêu hình tự bao đời thì Phật Tánh của họ vẫn bất sanh bất diệt. Chỉ cần khởi tâm Bồ Đề, sám hối ăn năn, quy Phật tu hành chơn chánh thì Trang Nghiêm – Phật Độ cho đến ngày liễu ngộ, kiến Tánh.

Là Phật cốt (xá lợi của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật), Phật tượng (hay hình ảnh) mà chúng sanh tôn thờ để nơi Tướng – hiển Tánh, tâm hành theo hạnh Phật, tấn tu giải thoát.

Hỏi: không xét đến Phật cốt vốn là “xá lợi” của Đức Phật Bổn Sư thì với Phật tượng (hay hình) về bản chất chỉ là sản phẩm “nhân tạo” do nghệ nhân hay họa sĩ tạo thành, sao lại được xem là Phật Bảo?

Đáp: đây chính là sự vi diệu nhiệm mầu của Phật Pháp. Dẫu Phật tượng (hay hình) chỉ là sản phẩm nhân tạo của thế gian nhưng nếu người thờ (tu sĩ, cư sĩ) là Phật tử chơn chánh, một lòng kính Phật, nỗ lực tu chơn vì đại sự hoằng truyền Phật Pháp, hóa độ chúng sanh thì ắt “cảm ứng” Phật lực 10 phương gia trì Phật tượng “hiển linh” và tâm đạo chơn thành tinh tiến. Bàn thờ Phật của vị chơn tu này sẽ rất trang nghiêm – vi diệu, cùng với nguyện lực của vị ấy mà trở thành nơi câu hội chúng sanh siêu hình khắp cõi 10 phương tầm về lạy Phật, sám hối, tu hành. Còn ngược lại, giả tu, phạm Giới, biếng lười, giải đãi… thì Phật nào độ cho, khi đó hình/tượng Phật dẫu đang thờ ở tại gia hay chùa chiền nghi ngút khói thập phương thì cũng chỉ là “vật vô tri”, không hơn không kém!

Thế mới biết, Phật Bảo nơi mình mà không trân quý và giữ gìn, ai giữ thay cho? Sự giải thoát, vi diệu nhiệm mầu của Phật Bảo phải tự thân tu hành, chứng nghiệm. “Tất cả chúng sanh là Phật sẽ thành nếu tu hành y lời Phật dạy” (Phật ngôn).

2. PHÁP BẢO

Là chơn thật ngữ trạch Pháp “như thị” của BẬC KIẾN TÁNH đã tâm thiền Vô Niệm, liễu thoát tử sanh. (xem bài: Vô Niệm – Sự quy nhất của Thiền-Tịnh-Mật)

Như vậy, lời dạy của Đức Phật, Bồ Tát, Chư Tổ và những bậc Cổ Đức đã kiến Tánh chính là Pháp Bảo, tất cả chúng sanh cần y Giáo phụng hành.

Còn lại, lời của phàm phu chúng sanh như Tiên, Thiên, A Tu La, Thánh, Quỷ Thần, Phàm Tăng và Người không được gọi là Pháp Bảo. Đại chúng phải hết sức lưu ý!

Hỏi: làm sao để biết một vị tu hành đã kiến Tánh hay chưa mà nương tựa tu hành?

Đáp: vị ấy phải công phu tâm thiền đạt Vô Niệm Tam Muội (Giới – Định – Huệ).

Hỏi: làm sao để biết đâu mới đích thực là Pháp Bảo mà nương tựa tu hành, giữa thực trạng tu hành loạn Pháp biến tướng hiện nay?

Đáp: để minh định đâu mới đích thực là Pháp Bảo (Chánh Pháp Phật), ta cần phải dựa vào lăng kính dưới đây để chiếu soi trạch Pháp, tránh “lộng giả thành chơn” mà tu lầm oan uổng, huệ mạng khó gìn:

a. Tam Pháp Ấn: Vô thường, Khổ và Vô ngã (hoặc Tứ Pháp Ấn gồm: Vô thường, Khổ, Vô ngã và Niết Bàn Tịch Tịnh).

  • Vô thường: hàm nghĩa sự biến chuyển không ngừng trong từng sát na của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất và của ý niệm trong tâm thức chúng sanh theo tính duyên khởi.
  • Khổ: vạn sự vô thường theo duyên hợp – tan nên ẩn tàng mầm mống của khổ, trong đó có: a) Khổ Khổ là sự khổ do cảm thọ bằng tri giác (dù lạc hay khổ đều bất tịnh); b) Hoại Khổ là sự khổ do biến hoại không ngừng của vạn vật, trong đó có tâm – sinh – vật lý của con người; c) Hành Khổ là sự khổ do duyên sinh nên sinh diệt vô thường của vạn pháp và chúng sanh. Chính vì khổ sanh – lão – bệnh – tử – luân hồi nghiệp báo của muôn vạn chúng sanh nên xưa, Thái tử Tất-Đạt-Đa (Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật) vì lòng từ vô lượng mới hỷ xả thân mạng để tầm phương thoát khổ, giải thoát chúng sanh.
  • Vô ngã: vạn sự vô thường theo duyên nên vô ngã, không thường hằng bất biến. Do chúng sanh không ngộ được tính Không (vô ngã) của vạn pháp nên chấp thủ, tham ái phát sanh, từ đó tác nghiệp muôn trùng thì lẽ dĩ nhiên theo Luật Nhân – Quả phân minh phải luân hồi chịu khổ trong 6 đường (Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh, A-tu-la, Nhơn, Thiên) không dứt.

b. Ba yếu tính giác ngộ: Bồ Đề Tâm, Xả Ly, Tánh Không.
    Ba Vô Lậu học: Giới – Định – Huệ (đường lối tu Phật).

  • Bồ Đề Tâm: là những tâm lượng vô ngã giải thoát, xuất trần của hành giả vì đại sự hoằng truyền Phật Pháp, hóa độ chúng sanh, được gói gọn trong 4 tâm vô lượng là Từ – Bi – Hỷ – Xả. Chỉ cần còn 1 chút “ngã” vi tế (mình, của mình, cho mình) thì đó không phải là Tâm Bồ Đề mà là Tâm Chúng Sanh.
  • Xả Ly: do Chánh kiến tư duy thấu triệt Vô thường – Khổ – Vô ngã nên tâm hành xả ly (Xả) tất cả “mọi tâm niệm chúng sanh”, sống đời thiểu dục tri túc, nhiếp tâm tu trì, huân tu phạm hạnh, quyết cầu Đạo giác ngộ – giải thoát mà không màng sanh tử.
  • Tánh Không: là tên gọi khác của Tự Tánh Phật nơi mỗi chúng sanh. Để liễu ngộ Tánh Không, không có con đường nào khác ngoài Giới – Định – Huệ. Nếu tâm thiền chưa đến Vô Niệm Tam Muội (kiến Tánh) thì không nên dụng tri kiến phàm phu mà luận giải Tánh Không vì có khác gì “Lìa Tánh thuyết Pháp, tức đồng Ma thuyết”, nghiệp tội vương mang.

c. Tứ Y Cứ (hay Tứ Y Pháp): Y pháp bất y nhân, Y nghĩa bất y ngữ, Y liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa và Y trí bất y thức.

  • Y pháp bất y nhân: sau khi minh định dựa vào Tam Pháp Ấn và ba yếu tính giác ngộ mà trạch Pháp thì hành giả hãy theo yếu nghĩa Phật Pháp mà tu hành; quyết không vì cổ lệ, truyền thống, tình cảm Thầy – Trò, thần tượng, hám danh một ai… mà mù quáng “nhắm mắt” nghe theo.
  • Y nghĩa bất y ngữ: không chấp nhặt từ ngữ, câu cú mà hãy dùng Chánh kiến tư duy yếu nghĩa của Kinh văn để thọ trì rốt ráo, tránh rơi vào “thiên la địa võng” của ngụy Kinh, ngụy thư vốn bị tam sao thất bản hay bị phàm Tăng, tà Sư thêm thắt, cắt xén theo tri kiến phàm phu hạn hữu của mình. Khi liễu ý, hãy quên lời!
  • Y liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa: hãy theo liễu nghĩa giải thoát rốt ráo của Phật đà để tự tu – tự độ – kiến ngộ Phật Tánh chớ đừng bám chấp hay dừng lại ở phạm trù đạo đức phàm tình của thế gian vốn chỉ là nhân quả thiện lành của phước báu Nhơn – Thiên trong Lục đạo (làm Người, A-tu-la, Thiên). “Như nước biển chỉ có một vị, đó là vị mặn. Cũng thế, Pháp của Ta chỉ có một vị, đó là vị giải thoát” (Phật ngôn).
  • Y trí bất y thức: Trí là tuệ tri giải thoát, rốt ráo là Trí Huệ Vô Sư khi tâm thiền Vô Niệm. Thức là nghiệp nhân luân hồi trong Lục Đạo bao đời. Do đó, đừng ngã mạn và khinh suất tự tin vào tâm thức phàm phu của mình mà lạm bàn Phật Pháp (vô minh ngợi ca hay phỉ báng) khi chưa kiến Tánh. Hãy lắng lòng tịnh tâm dùng Chánh kiến tư duy Diệu Pháp rồi thọ trì.

Tóm lại: Pháp Bảo là Chánh Pháp Phật được Chư Phật khai thị, Tăng Bảo truyền thừa để độ tận chúng sanh kiến ngộ Phật Tánh, liễu thoát tử sanh. Đó chính là: Tứ Diệu Đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo), Duyên Khởi (Vô thường, Vô ngã), luật Nhân – Quả chí công và Nghiệp báo luân hồi, tâm Từ – Bi – Hỷ – Xả vô lượng, Lục độ Ba-la-mật (Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí huệ). Đường lối tu hành là: Giới – Định – Huệ.

Với lăng kính Phật Pháp trên, cùng tinh thần cầu thị chơn lý, không phân tranh bộ phái, chia rẽ Tông môn, báng Phật – khinh Tổ – diệt Pháp thì chắc chắn ai ai cũng có thể minh định và thọ nhận được “vị giải thoát” của Diệu Pháp Phật, tiến tu bất thoái.

3. TĂNG BẢO

Rốt ráo mà nói, Tăng Bảo là những BẬC KIẾN TÁNH đã tâm thiền Vô Niệm, liễu thoát tử sanh. Chỉ những vị này mới trạch Pháp khai thị, hướng hóa chúng sanh tu hành đúng theo Chánh Pháp, không lầm lạc chướng trái.

Bậc Kiến Tánh có thể là tu sĩ xuất gia, cũng có thể là cư sĩ tại gia, nếu tâm thiền đạt Vô Niệm Tam Muội. Tu Phật chỉ về tâm hành, không phải chấp tướng nên dẫu tướng Tăng (tu sĩ) hay Tục (cư sĩ), nếu đã kiến Tánh thì vị đó xứng danh Tăng Bảo.

Những vị tu sĩ đã hoàn toàn cắt ái ly gia, trường trai tuyệt dục, tịnh giới nghiêm trì, sống đời phạm hạnh thanh cao nhưng công hạnh tu hành còn non cạn, chưa kiến ngộ Phật Tánh, khai mở Trí Vô Sư liễu trạch vạn Pháp nguồn Tâm thì đó chỉ là Tỳ Kheo Chơn Chánh (phàm Tăng) mà thôi, chưa thật sự xứng danh Tăng Bảo. Họ hoàn toàn có thể lạc Thiền… khi ngoại ma – nội chướng khảo đảo, hoành hành nếu tâm Bồ Đề không kiên định, từ đó ngã mạn – tham ái – chấp thủ phát sinh, khiến sa vào Tà chúng, lạc Đạo Bồ Đề.

Với những kẻ mượn Đạo tạo Đời, giả tu, phạm Giới, lợi dưỡng để vinh thân phì da, tri hành bất nhất thì đó là TÀ SƯ. Đại chúng phải nên tránh xa, đừng lầm lạc a dua, sùng tín mê lầm thì huệ mạng nơi Tam Bảo dứt lìa, cộng nghiệp cùng gánh.

Diệu Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật _()_
Diệu A Di Đà Phật _()_

Cổ Thiên

———————————————-

Tham khảo bài: