phat-phap-van-dap-22-niem-phat-cau-vang-sanh-tay-phuong-cuc-lac

* CÂU HỎI

Kính Thầy!

Thầy hoan hỷ cho con bạch: con nay trên 60 tuổi rồi, hay đi chùa cộng tu niệm Phật, cầu nguyện sau này con có mất sẽ được vãng sanh Tây phương Cực Lạc của Đức Từ phụ A Di Đà. Con rất tin vào lòng Từ Bi của Phật, cũng rất an tâm với Pháp môn mình đang được chỉ dạy tu vì nhiều vị Thầy nổi tiếng khắp thế giới cũng dạy như vậy.

Tuy nhiên, khi đọc Kinh Kim Cang, con thấy Đức Phật dạy là: ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm, con thấy rất hoang mang nhưng không dám hỏi ai, nhiều lúc con muốn lờ đi nhưng nó cứ lẩn quẩn ở trong đầu. Xin Thầy hoan hỷ chỉ rõ ạ!

Nam mô A Di Đà Phật!

* PHÚC ĐÁP

Cầu vãng sanh Tây phương Cực Lạc: đó là kiến giải và hành Pháp sai lệch của đại đa số người tu Tịnh thời nay. Nguyên nhân sâu xa của những điều này là do Kinh điển bị tam sao thất bản, người tu (tu sĩ, cư sĩ) thì thiếu Chánh Kiến và Trí Huệ, chướng chấp vào văn tự và sắc tướng, lại tự ngã lập tri nên dịch giải Phật Pháp theo mê kiến lầm lạc. Điển hình như:

1. Tây Phương

“Bấy giờ Đức Phật bảo ngài Trưởng lão Xá-Lợi-Phất rằng: Từ đây qua phương Tây quá mười muôn ức Cõi Phật, có thế giới  tên là Cực Lạc, trong thế giới đó có Đức Phật hiệu là A Di Đà hiện nay đương nói Pháp.” 

 (trích Kinh A Di Đà. Việt dịch: HT. Thích Trí Tịnh)

Qua trích đoạn Kinh trên, hỏi:

  • Tánh Phật (Tự Tánh Di Đà) trùm khắp Hư không, biến khắp Pháp giới, hỏi có giới hạn ngằn mé không? Lòng từ Chư Phật mênh mông vô lượng, hạnh nguyện vô biên độ tận chúng sanh nơi khôn cùng cảnh giới khắp cõi 10 phương, hỏi có hạn lượng nào? Do đó, nếu xét về Từ tâm Bi nguyện Mật hạnh thì cõi Phật A Di Đà trùm khắp Pháp giới Hư không độ tận chúng sanh tất thảy quy về, nào chỉ tại phương Tây theo tri kiến mê lầm hạn hữu?
  • Nếu xét về trú xứ của 1 vị Phật thì từ đây (Ta Bà ngũ trược) qua phương Tây quá mười muôn ức Cõi Phật (trú xứ của các vị Phật) mới đến Cõi Phật A Di Đà, vậy phương Tây cõi Phật A Di Đà vốn không thể nghĩ bàn bằng căn trí của phàm phu, thậm chí của cả chư Đại Bồ Tát thì cớ sao đồng nhất theo phương hướng thường tình của thế gian?

Rõ thấy, trích đoạn trên đã gây ra rất nhiều ngộ nhận, kiến giải sai lệch về yếu nghĩa 2 chữ Tây Phương, vốn không thể nghĩ bàn. Từ đó, cần liễu tri rằng: bốn phương Đông – Tây – Nam – Bắc chỉ là danh xưng giả lập theo tri thức loài người (phàm phu) nhằm phục vụ cho đời sống nhân sinh, nào có liên quan đến Tây Phương Cõi Phật A Di Đà tối cao vô thượng, nơi trú xứ của vị Cổ Phật Vương 10 phương 3 đời Chư Phật. Cho nên, người tu Phật hãy theo tinh thần Y nghĩa bất y ngữ trong Tứ Y Pháp mà Đức Phật khuyên dạy mà liễu ý, kính tín nhưng đừng chấp theo văn tự mà tri hành và diễn giảng lệch lạc nghĩa Tây Phương thì tự chướng trái Đạo Bồ Đề.

2. Cực Lạc

“Xá Lợi Phất! Cõi đó vì sao tên là Cực Lạc? Vì chúng sanh trong cõi đó không có bị những sự khổ, chỉ hưởng những điều vui, nên nước đó tên là Cực Lạc.”

 (trích Kinh A Di Đà. Việt dịch: HT. Thích Trí Tịnh)

Từ đoạn trích trên, người tu cần sáng tỏ:

  • Ai sống trên đời cũng đều mong muốn lìa khổ được vui, truy tìm và đấu tranh không mỏi vì lẽ đó theo chấp ngã mê lầm nên phải trầm luân thống khổ. Xét cho cùng, mọi cảm thọ của chúng sanh phàm phu như thương – ghét, vui – buồn, sướng – khổ… đều vô thường sanh diệt, luân phiên tiếp nối không ngừng trong từng sát na tâm niệm. Thế thì truy tìm, vọng cầu, an hưởng những cảm thọ hạnh phúc, an lạc hay Cực Lạc khi tu Đạo chung quy chỉ là tướng Khổ luân hồi, là điên đảo Chánh Pháp bởi chấp mê sâu nặng chứ nào phải giác ngộ – giải thoát chơn như của Phật đà, cớ sao tà kiến gán danh Cực Lạc lắm mùi tục lụy trần lao cho Cõi Phật Vương tối cao vô thượng?
  • Do đó, người tu Phật nếu không “quán chiếu ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) giai Không”, sao có thể “độ nhất thiết khổ ách”? Người tu Phật nếu không y Tánh tâm hành vô cầu – vô đắc – vô ngã – vô trụ, hỏi chướng chấp ngã tướng làm sao đoạn tận mà ngược lại, ắt càng khiến cho tập khí mê si tự bao đời thêm chất ngất nặng hành trang?
  • Còn đó lời Phật dạy về 5 loại Ấm Ma, gồm: Sắc ấm ma, Thọ ấm ma, Tưởng ấm ma, Hành ấm ma, Thức ấm ma (Kinh Diệu Thủ Lăng Nghiêm) hầu nhắc nhở và cảnh báo hậu thế tránh chướng chấp vào đó, khiến lạc Đạo Bồ-Đề. Thế thì Cõi Phật Vương A Di Đà trang nghiêm tịch tịnh vi diệu không thể nghĩ bàn, phàm phu chúng sanh sao có thể mê kiến lập tri tán tụng dưới danh xưng Cực Lạc theo thiển trí của mình, rồi truyền giảng điều Phi Pháp này thêm sâu rộng? Có biết bao người tu đắm nhiễm trong vọng cầu mê mải (tham), chướng trái lìa Tánh tu hành (si) mong an hưởng Cực Lạc (mê) mà sa vào 5 loại Ấm Ma (Tà) tự không thể thoát, tất cả cũng vì tà kiến Cực Lạc mà ra.

Lại nữa:

“Xá Lợi Phất! Lại trong cõi Cực Lạc có bảy từng bao lớn, bảy từng mành lưới, bảy từng hàng cây đều bằng bốn chất báu bao bọc giáp vòng, vì thế nên nước đó tên là Cực Lạc. 

Xá Lợi Phất! Lại trong cõi Cực Lạc có ao bằng bảy chất báu, trong ao đầy dẫy nước đủ tám công đức, đáy ao thuần dùng cát vàng trải làm đất. Vàng bạc, lưu ly, pha lê hiệp thành những thềm, đường ở bốn bên ao; trên thềm đường có lầu gác cũng đều nghiêm sức bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não. …

 Xá Lợi Phất! Lại trong cõi nước của Đức Phật đó thường trổi nhạc trời, đất bằng vàng ròng, ngày đêm sáu thời rưới hoa trời mạn đà la. Chúng sanh trong cõi đó thường vào lúc sáng sớm đều lấy đãy hoa đựng những hoa tốt đem cúng dường mười muôn ức Đức Phật ở phương khác, đến giờ ăn liền trở về bổn quốc ăn cơm xong đi kinh hành. …

Xá-Lợi-Phất! Cõi nước của Đức Phật đó thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy”.

(trích Kinh A Di Đà. Việt dịch: HT. Thích Trí Tịnh)

Rõ thấy:

  • Cõi Phật A Di Đà trang nghiêm tịch tịnh vi diệu không thể nghĩ bàn đã được phàm Tăng hay Tà sư thêm thắt, dịch giảng, miêu tả dưới đủ hình tướng sanh diệt như hồ ao, hàng cây, lầu gác bằng vàng bạc châu báu, thậm chí còn có cả việc ăn uống thì than ôi…! Nếu ngôn ngữ phương tiện không thể diễn giải rốt ráo Diệu lý Phật-đà thì huống gì cõi Phật A Di Đà trang nghiêm tịch tịnh? Đã không thể nghĩ bàn, Chư Đại Bồ Tát còn không thể liễu tận thì cớ sao phàm phu phạm thượng gán những điều vọng hoặc ấy của mình quy do Phật thuyết? Trực tâm trạch Pháp mà nói, ma kiến đó khác gì chiêu dụ, lừa mị Tín chúng lẩn quẩn trong chấp trước vào sắc tướng huyễn bào, trong vọng cầu trái Tánh, chỉ khiến tâm chúng sanh đã mê càng thêm loạn, đã tham lại càng thâm…, từ đó huệ mạng thối thất chớ nào có được Pháp vị giải thoát gì khi tu Đạo. Đức Phật không giảng những điều Mê pháp phương hại chúng sanh mãi luân hồi trong biển khổ, thật là Tam thế Phật oan tự bao đời nay…!
  • Vì thế, dẫu Kinh A Di Đà do chính Đức Phật Thích Ca tuyên thuyết (vô vấn tự thuyết) để rộng độ chúng sanh thời mạt tâm trì Giới y Tánh tu hành tinh tấn (tức Tự lực) ắt sẽ cảm ứng đạo giao được 10 phương Chư Phật độ trì tu tiến (tức Phật lực cộng cùng) nhưng xót xa thay, lời Ngài giảng thuở xưa do không có văn tự lưu lại nên đã bị tam sao thất bản, thêm thắt rồi dịch thuyết trong mê vọng tự bao đời. Trích đoạn sau trong Kinh Tăng Chi Bộ đã nói lên tình trạng Kinh điển bị tam sao – thất bản xảy ra như 1 điều tất yếu nên Đại chúng hãy cẩn trọng Văn – Tư – Tu và theo tinh thần Tứ Y Pháp mà chiêm nghiệm tận tường thấu đáo trước khi thọ trì:

– “Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo học thuộc lòng kinh, được lãnh thọ sai lầm, với văn cú sắp đặt bị đảo lộn. Do văn cú bị sắp đặt đảo lộn, này các Tỷ-kheo, nên nghĩa lý bị hướng dẫn sai lạc. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ nhất đưa đến Diệu pháp hỗn loạn và biến mất.

– Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với các Tỷ-kheo nghe nhiều, thông hiểu các tập A-hàm, bậc trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Các vị ấy không nói lại Kinh cho người khác một cách cẩn thận. Khi họ mệnh chung, Kinh bị cắt đứt tại gốc rễ, không có chỗ y cứ. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ ba đưa đến Diệu pháp hỗn loạn và biến mất.”

 (trích Kinh Tăng Chi Bộ)

3. Cầu vãng sanh

Khái quát, vãng sanh có nghĩa là cảnh giới thọ báo trong Lục đạo luân hồi mà 1 chúng sanh sẽ phải sanh vào để trả quả túc nghiệp đã gieo tạo sau khi chấm dứt cuộc sống phàm trần (tử). Nếu 2 chữ vãng sanh là chỉ cho phàm phu chúng sanh trôi lăn luân hồi trong Lục đạo do nghiệp báo chiêu cảm thì liễu sanh thoát tử là chỉ cho thành tựu tu hành của Bậc đã kiến ngộ Phật Tánh (tâm thiền Vô niệm). Từ đó, rõ thấy:

  • Đạo Phật là Đạo giác ngộ – giải thoát chứ không phải Đạo vãng sanh. Đại sự tu Phật là kiến ngộ Phật Tánh, liễu thoát tử sanh, bởi tất cả chúng sanh đều có Phật Tánh. Mười phương ba đời Chư Phật chỉ vì đại sự nhân duyên này mà thị hiện hóa độ tất cả chúng sanh mê, từ bi dạy bảo: “Các con hãy lấy Giới luật làm Thầy, y theo Diệu Pháp Như Lai mà tu hành chơn thật, nương tựa chính mình tự thắp đuốc (Trí Huệ) mà đi”. Nếu gieo Chánh nhân: trực tâm y Tánh tu hành chơn thật, hằng trang nghiêm Tự Tánh Tam Bảo mà nhẫn lực miên mật tâm hành (Giới – Định – Huệ) không mỏi dẫu sanh tử có cận kề trước mắt thì Chánh quả giác ngộ – giải thoát là lẽ tất nhiên trong mai hậu. Ngược lại, nghiệp tạo muôn trùng, lìa Tánh tu hành thì dẫu có van lơn vọng cầu thống thiết mong được vãng sanh Cõi Phật cũng không được ích lợi gì, hậu phần ắt sẽ trầm mê trong Tam đồ ác đạo hay sáu nẻo vào ra, vô cùng thống khổ. Đó là do Luật Nhân – Quả công bằng chiêu cảm tự nhiên, nào phải muốn ắt thành, cầu ắt được theo tà kiến thần quyền. Nên nhớ: Đức Phật giáo hóa chúng sanh tin sâu Nhân – Quả, trực tâm y Tánh nhẫn lực tu hành chứ KHÔNG dạy chúng sanh mê lầm Nhân – Quả, lìa Tánh tu hành mãi vọng cầu chướng trái…
  • Qua đó, những cụm từ như: cầu vãng sanh Cõi Phật A Di Đà, cầu vãng sanh Tây phương Cực Lạc, cầu vãng sanh Cực Lạc, niệm Phật cầu vãng sanh… đã tự mâu thuẫn nhau, nghịch lý Nhân – Quả, chướng trái tôn chỉ tu Phật chơn truyền (vô cầu – vô đắc – vô ngã – vô trụ). Tà pháp này đã làm biến tướng Đạo Phật, dẫn dắt biết bao chúng sanh lầm lạc trong Tà tín thần quyền (si) và vọng cầu mê mải (tham), thiêu rụi huệ mạng của Tín chúng (tu sĩ cũng như cư sĩ) trong khi đó lại được chính họ hoằng truyền rộng tu thì than ôi, mạng mạch Phật Pháp tại thế gian rồi sẽ về đâu? Lẽ ra tập khí tham – sân – si bao đời chồng chất bao nhiêu thì khi tu Phật phải nhẫn lực tinh tấn đoạn trừ bấy nhiêu mới mong Đạo tâm – Trí huệ sáng tỏ, sao lại góp phần làm cho tập khí vô minh đó thêm sâu dày chất ngất (nội chướng) bằng những Tà kiến – Tà pháp này thì ắt sẽ chiêu cảm Tà mị (ngoại Ma) dẫn dắt, chắc chắn lạc Đạo Bồ Đề.
  • Còn đó lời khai thị của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật về Chơn niệm Phật như sau:

 Nầy Diệu-Nguyệt! Người niệm Phật trong khi xưng niệm danh hiệu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT phải phát khởi cái TÂM XẢ LY, lìa bỏ tất cả. Sao gọi là LÌA BỎ? Lìa bỏ nghĩa là không trụ tướng mà niệm Phật, không nắm giữ mà niệm Phật, không tương ưng mà niệm Phật, không đối đãi mà niệm Phật, không chống trái mà niệm Phật, không cầu mong mà niệm Phật, không nhiễm duyên mà niệm Phật. Như thế gọi là XẢ LY TÂM mà niệm Phật.

– NGƯỜI NIỆM PHẬT CHỈ BUỘC TÂM VÀ Ý vào danh hiệu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT, chăm chú LẮNG NGHE, mỗi câu rõ ràng, mỗi niệm phân minh. QUÊN CẢ THÂN, QUÊN CẢ CẢNH, QUÊN CẢ CÁI Ý THỨC TỰ BIẾT TA ĐANG NIỆM PHẬT, như thế mới gọi là LÌA BỎ.

– Lìa bỏ “Khổ, Tập, Diệt, Đạo” mà niệm Phật.

– Lìa bỏ “Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp” mà niệm Phật.

– Lìa bỏ “Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí huệ” mà niệm Phật.

– Lìa bỏ “Tín giải, Hành chứng” mà niệm Phật.

– Lìa bỏ “Từ – Bi – Hỷ – Xả” mà niệm Phật.

– Lìa bỏ “Không, Vô thường, Vô ngã” mà niệm Phật.

– Lìa bỏ “Bồ đề, Niết bàn, Giải thoát, Giải thoát tri kiến” mà niệm Phật.

– Lìa bỏ tất cả các pháp hữu vi, tất cả các pháp vô vi mà niệm Phật.

– Lìa bỏ ngã và ngã sở.

– Lìa bỏ luôn cả ý tưởng cầu mong vãng sanh, chí nguyện độ sanh, ý hướng thành Phật mà niệm Phật.

Niệm Phật với TÂM XẢ LY như thế mới được gọi là Chân Chánh Niệm Phật!

(trích Kinh Niệm Phật Ba-La-Mật)

  • Còn đó lời khai thị của Lục Tổ Huệ Năng về Chơn niệm Phật để cảnh tỉnh mê lầm:

Kẻ mê niệm Phật cầu sanh nơi khác, người ngộ tự tin nơi tâm. Cho nên Phật nói: Tùy nơi tâm tịnh tức Phật độ tịnh

– Tự Tánh Như Lai trong tâm địa (ngụ ý “Tự Tánh Phật của chính mình”) phóng đại quang minh, ngoài chiếu sáu cửa (6 căn gồm mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý) thanh tịnh liền phá hết lục dục chư Thiên, Tự Tánh chiếu soi bên trong liền trừ Tam-độc THAM – SÂN – SI, các tội Địa ngục nhất thời tan rã. Trong ngoài sáng tỏ (ngụ ý “kiến Tánh”), chẳng khác Tây Phương. Nếu chẳng tu như vậy (ngụ ý công phu niệm Phật thành tựu “Niệm Phật Tam Muội”), Tây Phương làm sao đến được?

– Chỉ cần TÂM ĐƯỢC THANH TỊNH tức là TỰ TÁNH TÂY PHƯƠNG.”

(trích Kinh Pháp Bảo Đàn)

 *** TÓM LẠI

Tây Phương Cõi Phật A Di Đà tịch tịnh trang nghiêm vi diệu, không thể nghĩ bàn. Người tu Phật chỉ nên liễu tri kính tín thế thôi, không diễn giải chướng trái.

 Cực Lạc là tướng Khổ, là danh xưng lắm mùi tục lụy uế trược nên đừng tà kiến hành Ma sự gán tục danh này cho Cõi Phật Vương tối cao vô thượng. Phải loại trừ danh xưng: Cõi Tây Phương Cực Lạc Thế Giới ra khỏi Kinh Luận thời nay. Thay vào đó, chỉ xưng tán đơn giản là: CÕI PHẬT A DI ĐÀ tối cao vô thượng mà thôi.

Cầu vãng sanh tức rơi vào ngã tướng (chấp Ngã, chấp Pháp), trái lý Nhân – Quả, vọng cầu mê chướng (tham), lìa Tánh tu hành (si). Người tu Phật thống thiết vì đại sự liễu sanh thoát tử hãy nhẫn lực tâm hành tự giác – tự độ chơn thật thì ắt sẽ được 10 phương Chư Phật độ trì tu tiến. Tuyệt đối đừng khởi niệm mê cầu vãng sanh mà hãy tinh tấn trì giới tâm hành chuyên nhất nơi Phật hiệu miên mật không ngừng thì ắt sẽ tự khế Đạo mà thôi, nhân – quả tự nhiên thành.

Cần loại trừ Ma pháp: Cầu vãng sanh Tây phương Cực Lạc để khôi phục Chánh Pháp Phật truyền, làm trong sạch cửa Tịnh khỏi tà kiến thần quyền, giữ gìn huệ mạng của chúng sanh đời đời nơi Tam Bảo.

Câu niệm: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật cần sửa lại là: Nam mô Tây Phương Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật hay Nam mô Thập Phương Chư Phật Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật.

Vì thế, khuyên Phật tử đừng mong thấy Phật, đừng cầu vãng sanh… mà hãy NHƯ PHÁP THỌ TRÌ: nhẫn lực tinh tấn tâm hành vô cầu – vô đắc – vô ngã – vô trụ niệm Phật, kể cả ý niệm tâm hành vô trụ đó cũng không dính mắc thì mới đích thực là CHƠN NIỆM PHẬT, đúng như lời Phật dạy: Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm. Đó là kim chỉ nam tu Phật cho tất cả chúng sanh.

Người tu Phật dẫu hành trì theo Pháp môn nào đều cần phải có Chánh Kiến, Chánh Tín. Thế nào là Chơn Tín – Nguyện – Hạnh, Phật tử hãy tham khảo bài Pháp: Chánh Kiến về niệm Phật vãng sanh.

Cũng cần nói thêm, những nghi vấn trong tu Phật chỉ có thể được trạch Pháp rốt ráo qua các buổi Pháp đàm mà thôi, bởi khó mà diễn giải tất cả trong phạm vi 1 bài viết. 

Mong Phật tử tinh tấn!

Diệu Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật _()_
Diệu A Di Đà Phật _()_

Cổ Thiên

————————————————-

Tham khảo: