phat-a-di-da

* CÂU HỎI 

  1. Hiện nay, có nhiều tu sĩ giảng rằng: Đức Phật A Di Đà là do tưởng tượng của các “Tổ Tàu” thêm thắt, không có thật. Do đó, pháp môn niệm Phật A Di Đà không phải do Phật thuyết. Con hoang mang quá! Mong thầy chỉ dạy!
  1. Vì sao có chữ DIỆU trước câu niệm A DI ĐÀ PHẬT? Chữ DIỆU này có ý nghĩa thế nào, diệu dụng ra sao? Có khác với câu niệm: Nam mô A Di Đà Phật hay không?

* PHÚC ĐÁP 

  1. Có thể nói, bài viết TINH THẦN NGƯỜI TU PHẬT CHƠN CHÁNH TRƯỚC SỰ PHÂN CHIA HỆ PHÁI PHẬT GIÁO đã luận rất rõ, tin rằng Đại chúng sau khi đọc qua đã “tự” có câu trả lời cho mình. Tuy nhiên, phúc đáp dưới đây không chỉ trả lời cho câu hỏi 2 mà còn thêm phần xác tín cho trả lời câu hỏi 1, đó là PHÁP HÀNH!
  1. DIỆU A DI ĐÀ PHẬT! Chữ DIỆU trên có nguồn gốc từ PHÁP HÀNH, tức từ công phu tu Phật của bản thân hành giả mà có được. Đã tu Phật, hướng đến giác ngộ – giải thoát thì chẳng ai nói về mình cả, chỉ một lòng trưởng dưỡng Từ Tâm, nghiêm trì Giới đức, chuyên tu Thiền Định, nguyện gánh vác khổ nghiệp của muôn vạn chúng sanh, kế thừa hạnh nguyện chư Phật. Tuy nhiên, nếu đã nói tới PHÁP HÀNH chia sẻ đến Đại chúng thì tuyệt đối không thể “điêu ngoa” bởi 10 phương Tam Thế Phật chứng tri, nhân-quả nghiệp báo luật muôn đời. Do đó, Đại chúng hãy tùy duyên, tịnh tâm mà thọ Pháp; chớ buông lời thị phi, tranh luận mà tổn nhọc tâm đức.

Nhớ lại rất nhiều năm về trước, khi ngẫm thấy cuộc đời như giả tuồng, sống bon chen, thị phi, hơn thua, tạo tác… để rồi cuối cùng ai ai cũng một nấm mồ chung cuộc nên lòng chẳng còn thiết tha với sự đời tạm bợ mà tầm hướng về Phật Đạo, buổi ban sơ chỉ một câu niệm NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT ở trong lòng. Khi đó hầu như không biết gì về Phật Pháp, cũng không có Kinh sách gì trong tay, chỉ biết công phu kiết già niệm Phật bất cứ khi nào có thể, bất luận đêm ngày. Không có ai chỉ dạy cách niệm Phật như thế nào, ngồi ra sao mà chỉ biết làm theo tự tâm, nhìn trên bàn thờ thấy Đức Phật ngồi như thế nào, tay kiết ấn Tam Muội ra sao thì bắt chước làm như thế đó, xong nhắm mắt, tâm niệm Phật. Lúc ấy, chỉ một lòng tin tưởng rằng tâm mình chí thành, chơn thật tu Phật thì dù không có ai chỉ dạy công phu cũng sẽ được chư Phật, chư Hộ Pháp gia trì nên không lo ngại mà quyết dụng công tu tiến. Ngoài thời công phu, khi làm việc gì thì cũng cố gắng tập vừa làm việc, vừa niệm Phật trong tâm.

Thời gian sau, do duyên lành mà quen biết được Thầy trụ trì của một Tịnh xá tại Thành phố Cần Thơ, sau khi đàm đạo được dạy, khuyên hành trì Tham Tổ Sư Thiền. Đồng thời, Thầy trụ trì cũng tặng cho hành giả vài quyển sách luận về Tổ Sư Thiền của Hòa Thượng Thích Duy Lực để tham khảo tự tu vì hành giả ở xa nên rất ít có điều kiện lui tới. Từ đó về sau, hành giả kết hợp vừa Tham Thiền vừa Niệm Phật trong mỗi thời công phu của mình, tất cả đều tự tâm mà không hề tác ý. Kinh sách hầu như không xem, nếu có chỉ đọc vài dòng hay vài trang rồi buông xuống, tự tâm không muốn đọc nữa, chỉ muốn chuyên nhất nơi công phu trực chỉ Chơn Tâm mà thôi.

Đến một hôm, khi đang tọa thiền công phu như thường nhật, câu niệm NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT vẫn miên mật trong tâm thì bỗng nhiên tự mất dần từng chữ một, rồi mất hẳn. Những thời công phu sau đó, trạng thái này diễn ra rất nhanh. Không chỉ vậy, với pháp Tham Tổ Sư Thiền thì cả câu thoại đầu: “KHI CHƯA CÓ TRỜI ĐẤT, TA LÀ GÌ?” cũng tự mất dần từng chữ, rồi cuối cùng không còn khởi lên được nữa. Đây chính là VÔ NIỆM, đã từng được giảng trong các bài viết trước đây.

Hành giả cứ thế Thiền – Tịnh song hành mà nhậm vận qua ngày, rồi một hôm khi công phu trong cảnh giới Vô Niệm vốn không khởi được niệm gì, kể cả niệm Phật hay chiếu cố thoại đầu, thì tâm hành giả lại tự khởi NGUYỆN trước Chư Phật 10 phương mà không hề tác ý hay dự tính trước đó (xem bài “Hạnh Nguyện của người tu Phật). Tất cả đều diễn ra hết sức tự nhiên! Từ đó, tự tâm bước sang Mật đạo, bắt đầu tìm học Mật chú của Chư Phật mà hành trì. Từng bài chú như Chú Đại Bi, Lục Tự Đại Minh Chơn Ngôn, Chuẩn Đề Chơn Ngôn, Ngũ Bộ Chú, Bát Nhã Chơn Ngôn, Chú Lăng Nghiêm, Hoạch Chư Thiền Tam Muội Chơn Ngôn, Phật Bộ Chơn Ngôn… đều đã trì qua và cuối cùng đều đạt VÔ NIỆM (xem bài “Vô Niệm – Sự quy nhất của Thiền – Tịnh – Mật”).

Từ đó, bất luận là THÂN đi, đứng, nằm, ngồi (chớ không phải chỉ trong lúc tọa thiền dụng công mà thôi), TÂM hành giả luôn an trú trong thiền định, dung thông THIỀN – TỊNH – MẬT đồng quy Tự Tánh Phật (Pháp tức vô Pháp nhưng do sự nên mượn lời tỏ ý). Và rồi trong lúc tâm thiền, tự tâm khai hoa MẬT CHÚ RIÊNG khế hợp với hạnh nguyện của chính mình như vừa nói ở trên. Do đó, mật chú riêng là thành tựu tu hành, không có trong Tam Tạng Kinh Điển, như cây đủ duyên đến thời liền khai hoa, kết trái lẽ tự nhiên vậy.

Cũng cần nói thêm, trong suốt thời gian này, hành giả có thắng duyên gặp gỡ cố Hòa thượng Thích Liễu Minh (trụ trì Chùa Nhơn Phước, tọa lạc tại ấp 1, xã Tam Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang), vị hành giả Mật tông có mật hạnh thâm sâu, vô ngã vô tướng độ tử – độ sanh biết bao người và chúng sanh khắp mọi cảnh giới quy Phật tu hành. Hành giả được tận mắt chứng kiến những mật hạnh của Ngài như: ăn uống không phiền đến ai dù tuổi rất cao, lại cách 3 – 4 ngày Ngài mới dùng 1 bát cháo lỏng hay nước của các loại rau củ nấu cùng; mặc áo thun rách, quần vải ú; đi chân trần; mỗi sáng hay chiều thường hay đi kiếm củi về dùng; nhiều năm không tắm mà chẳng hôi; chiều đến chỉ trụ tại chùa 1 mình để tọa thiền độ chúng trong Tam cõi, không cho ai ở lại; với bao người bệnh do nghiệp duyên, oán trái, bùa ngãi, thư ếm… đến nhờ thì Ngài trì mật-chú để hóa độ mọi thành phần nương vào, cho âm siêu dương thới chỉ bằng 2 bàn tay với Vô Vi Ấn Pháp của nhà Phật. Biết rõ đó là Bậc chơn tu xuất thế nên hành giả thường ghé thăm Ngài mỗi khi có dịp. Do “mật” vốn chẳng nhận Thầy – chọn Trò truyền thừa như lẽ thường tình ở thế gian, chỉ tự tâm chứng biết “khế mật” rồi tự tu; tuy nhiên, hành giả luôn xem Ngài như vị Thầy của mình. Những diễn biến trong công phu, kể cả Vô Niệm, lập Nguyện, rồi Mật chú riêng tự tâm khai hoa, hành giả đều kể Ngài nghe minh tường, và chính Ngài rất hoan hỷ: “Con cứ theo đó mà tu!”.

DIỆU A Di Đà Phật mà quý Phật tử hỏi có nguồn gốc như thế! (xem bài “Mật tông) 

————————————

 LỜI KẾT

DIỆU A DI ĐÀ PHẬT là mật chú từ tâm hành giả có được sau khi:

  1. Công phu THIỀN, TỊNH, MẬT đều đạt VÔ NIỆM.
  2. TÂM trong cảnh giới VÔ NIỆM phát NGUYỆN trước Chư Phật khắp 10 phương.

Đây không phải là mật chú duy nhất mà hành giả có được, tùy theo đạo hạnh với thời gian mà các mật chú đã lần lượt khai hoa.

DIỆU A DI ĐÀ PHẬT có ý nghĩa, diệu dụng ra sao, khác biệt thế nào? DIỆU tức thậm thâm vi diệu, bất khả tư nghì. DIỆU dụng ra sao thì không thể nghĩ bàn, tự Tâm hành trì, ắt sẽ tỏ! Ví như cùng một đích đến, người đi bộ so với người đi bằng máy bay, ai tới đích nhanh hơn? Khác biệt thế nào, Đại chúng có thể tự suy ra từ ý này vậy.

– Xét thấy đủ duyên, nay chia sẻ đến Đại chúng một trong những mật chú riêng mà hành giả tu hành có được, tuyệt không có trong Tam Tạng Kinh Điển hay bất cứ nơi đâu, đó là: CỔ TỰ CHƠN NGÔN. Những ai hữu duyên, tín tâm chơn thật, tịnh Giới nghiêm trì, thân tâm trong sạch mà hành trì CỔ TỰ CHƠN NGÔN song hành cùng với DIỆU A DI ĐÀ PHẬT thì chắc chắn người ấy sẽ được lợi lạc vô cùng trên đường giác ngộ Tự Tánh Phật, hộ trì thân tâm tránh lầm đường lạc lối mà thẳng tắt tiến tu.

CỔ TỰ CHƠN NGÔN

Cổ cổ diệu đại cổ Phật hám yết đế Phật hồng tát đa, cổ diệu hám tát đa Phật hồng diệu thiên, cổ diệu hám ưu tát đa, cổ diệu hám ưu mưu ni, cổ diệu hám ưu điệt để, cổ cổ tát đát đa phá ra mưu ni a nâu tư để A Di Đà hật, a ra ca hật, cổ cổ hật cổ cổ mật. Cổ cổ diệu hám yết đế yết hồng, cổ tát hồng diệu hồng diệu thiên A Di Đà hật, cổ tát đát đa A Di Đà hật, cổ cổ Phật cổ cổ mật. Cổ cổ diệu hám ưu mưu ni ma ni chiết lệ bát di hồng A Di Đà hật cổ cổ mật yết lệ chủ lệ Chuẩn Đề, cổ Phật lam bộ lâm xỉ lâm A Di Đà Phật cổ cổ Phật. Cổ cổ diệu hám án a ác a vạn diệu đại cổ Phật huệ tát đa Phật ác, cổ diệu hám a hật hồng, cổ diệu hám ưu tát đa hồng ưu tà không hồng hật Phật mật diệu đại cổ Phật từ A Di Đà Phật cổ cổ Phật.

DIỆU A DI ĐÀ PHẬTCỔ TỰ CHƠN NGÔN là thành tựu PHÁP HÀNH trả lời cho câu hỏi: ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ CÓ THẬT HAY KHÔNG, vì trong cả 2 mật chú đều có Phật danh ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ. Câu trả lời này nằm ngoài Giáo môn, vượt ngoài sự hiểu biết, ý thức, tri kiến thường tình của thế gian (kiến văn giác tri, học vị Phật học). Câu trả lời này xuất phát từ TÂM HÀNH, từ TRÍ HUỆ VÔ SƯ chớ chẳng phải MÊ NÓI, như Cổ Đức đã từng dạy: “Đạo do tâm hành” vậy! Do đó, những ai hủy báng pháp môn niệm Phật A Di Đà, cho rằng Đức Phật A Di Đà và chư Bồ Tát là do tưởng tượng, không thật thì hãy sám hối tu chơn, trực tâm tu hành, công phu thiền định cho miên mật thì ắt có ngày Tín Tâm khai sáng sẽ không lầm lạc, điên đảo mà tạo nghiệp bồi mê nữa.

NGUYỆN 10 PHƯƠNG TAM THẾ PHẬT TÂM CHỨNG

Đệ tử Cổ Thiên xin cúi đầu đảnh lễ dâng bài Pháp này, trước thành tâm cúng dường Mười Phương Tam Thế Phật, sau chia sẻ rộng truyền đến Đại chúng, khuyến hóa tu hành. Nếu con dụng tâm mê ý vọng, ngã mạn khoe khoang, Pháp thí điêu ngoa, buông lời tà mị… thì con cam chịu đọa Địa Ngục A Tỳ, muôn kiếp bất siêu!

Diệu A Di Đà Phật _()_

Cổ Thiên