guong-hieu-hanh-cua-duc-xa-loi-phat

NGÀY CUỐI CHO MẸ
Hạnh Chiếu

Có những câu chuyện ta cứ ngỡ đã đi qua mất rồi nhưng thật ra nó vẫn còn đọng lại trong trái tim con người, nấc lên những rúng động ngàn năm. Đó là câu chuyện của vô lượng vô lượng Đức Phật, của Mục-kiền-liên, của Xá-lợi-phất, của tất cả những ai có mẹ có cha, có trái tim biết rụng về nguồn cội thiêng liêng.

Ráng chiều không dám lướt nhanh trên bầu trời Nàlakà, bởi vì ở đây, tất cả như đang dừng lại chờ đợi một bóng hình rất thân. Người trở về. Sẽ ở lại nơi này vĩnh viễn hay tiếp tục ra đi? Không ai dám nghĩ tới. Đoàn Sa-môn cứ lẳng lặng bước theo sau Tôn giả, mặc dù Ngài đã nhiều lần khẩn khoản khước từ. Chẳng ai muốn quay về, chẳng ai không dán mắt vào từng bước chân già cỗi của Tôn giả trên con đường quê. Sanh lão bệnh tử đổ xuống đời người bất dung tình, cho dù đó là bậc Thánh tăng. Vận hết thần lực, Tôn giả cố gắng duy trì mạng căn, về cho kịp tới nhà. Bởi vì ở đó có mẹ già.

Mẹ ngài là một tín đồ Bà-la-môn giáo, rất không thích Đức Phật và Tăng đoàn. Bà tức giận khi Ngài xuất gia theo Phật biết bao nhiêu. Sau đó, cứ mỗi lần nhớ con bà thiết trai cúng dường. Gặp con bà uất ức nguyền rủa. Xa con bà nhớ mong trông đợi. Đó là chuỗi nhân duyên lạ lùng của hai mẹ con Ngài. Cho nên Tôn giả biết rất rõ, ngoài Ngài ra không ai có thể độ mẹ thoát khỏi khổ hình. Nghe tin con trai về, bà ngạc nhiên “Ông con này, sao nay lại về?”. Rồi vẫn như mọi khi, bà vừa càm ràm, vừa tất bật đón Tôn giả và các bậc Thánh tăng.

Tuy nhiên, lần này Xá-lợi-phất đòi mẹ phải dọn phòng cũ, nơi ngày xưa Tôn giả chào đời. Bà cũng thuận theo, trong lòng chẳng nghĩ ngợi chi. Thế là Ngài tĩnh tọa suốt đêm trong phòng, chư Thiên lần lượt kéo đến đảnh lễ, ánh sáng chói tỏa, Kàlakà tràn ngập trong biển hào quang, khiến cho mẹ ngài hoảng kinh. Bà tìm đến và chiêm ngưỡng, thấy Tôn giả Xá-lợi-phất an định trong từng hơi thở. Thật khẽ, thật nhẹ, thật khinh an. Bà nhìn mãi không thôi, tâm mắt chẳng rời.

Từ trong chánh định, Tôn giả dùng tuệ nhãn xem thấy căn cơ của mẹ đã thuần thục. Thế là Ngài xuất định, vì mẹ thuyết Pháp. Nghe xong, bà phát khởi lòng tin chân chánh, quy hướng Thế Tôn, quy hướng Tam bảo, tà kiến chóng dứt, thân an tâm lạc, vào được Sơ quả Tu-đà-hoàn. Ngay khi lão mẫu vừa sanh vào dòng thánh, Tôn giả Xá-lợi-phất lặng lẽ thu thần nhập diệt. Hoành tráng. Diễm lệ. Tròn đầy. Một sự viên tịch hiếu đạo lưỡng toàn. Thì ra, nơi bậc đại trí tuệ không chỉ có tình mẹ, mà còn hơn cả tình mẹ – tình thương vô nhiễm, vô ưu.

Cả một đời theo Phật thuyết pháp độ sanh, Tôn giả đã vâng lệnh Thế Tôn rống tiếng sư tử, độ vô lượng chúng sanh. Cho tới giây phút cuối cùng, trước khi giã từ cõi mộng, Ngài đã rống lên tiếng rống vang dội nhất, chấn động nhất. Bởi vì ở đó động đến trái tim của mẹ, đang từng phút từng giây, chờ đợi nhịp đập quả tim con, dẫn máu chảy về nguồn. Đại địa chấn động, mây mù ảm đạm, muông thú kêu vang, buồn thương bậc Đại trí tuệ đã rời xa thế gian. Nhưng đó lại là giây phút Tôn giả vui mừng nhất vì đã làm được công việc sau cùng, độ mẹ thoát khỏi trầm luân.

Toàn bộ cuộc đời của Ngài không bỏ sót một hạnh nguyện nào. Vị đệ nhất thượng thủ Thánh đệ tử của Đức Phật, xứng đáng cho đời đời thế hệ Tăng lữ noi theo, độ tận chúng sanh mới vào Niết-bàn, trong đó nhất định có cha và mẹ. Nếu đem cuộc đời của Tôn giả Xá-lợi-phất lồng vào cuộc đời của tôn giả Mục-kiền-liên thì thật là vừa vặn làm sao. Mỗi ngài một sự thị hiện, bổ sung kiện toàn cho nhau một cách khít khao. Một bà mẹ còn tại thế, một bà mẹ đã qua đời, cả hai đều nhờ lòng đại hiếu của con mà vượt qua ách nạn.

Có phải chúng ta cũng là người con Phật? Trong trái tim mình hẳn có đấng song thân? Cho nên bằng mọi cách hãy quay về chăm sóc cha mẹ. Trong tinh thần đạo pháp và hiếu hạnh của người xuất gia. Đừng để quá muộn màng. Có một điều chúng ta cũng chớ quên, đó là muốn kịp quay về với cha mẹ, trước nhất hãy quay về với chính mình. Có những bước chân quên mất đường về. Có những bước chân đã biết đường về mà không chịu về. Cung đường nào chắn ngang? Ma mị nào dẫn lối? Rồi ra, cũng sáu nẻo luân hồi mà thôi.

Hãy như Tôn giả Xá-lợi-phất quay về lo cho mẹ trước khi người qua đời. Hay như Tôn giả Mục-kiền-liên lặn tận đáy sâu của tâm thức tìm mẹ, khi người đã qua đời. Nên nhớ là hai ngài đã chứng Thánh, chúng ta thì chưa. Khác nhau rất xa. Cho nên phải ráng tu trước cái đã. Người tu cần lắm đạo lực. Cha mẹ nhất định sẽ cộng hưởng theo. Ngày cuối cho mẹ, xin chờ tất cả chúng con.

——————————————

THINH VĂN SỬ
Hòa thượng Hộ Giác soạn dịch

Vào buổi chiều ngày thứ bảy, Ðại Ðức về đến làng, ngồi nghĩ chân dưới một góc cây gần cổng làng. tình cờ, ngay lúc ấy, người cháu trai của Ðại Ðức tên Uparivata hữu sự đi ngang, thấy Ðại Ðức, bèn đến gần đảnh lễ, Ðại Ðức hỏi:

– Bà ngoại con có nhà không?

– Bạch Ngài, có.

– Làm phiền con thông báo dùm, bần đạo đã về đến và con nhớ thưa bà rằng: “bần đạo sẽ lưu lại một ngày, xin Bà dọn chổ cho bần đạo ngay trong căn phòng mà bần đạo đã chào đời. Ðồng thời, sắp đặt chổ nghĩ cho 500 vị tỳ kheo đồng hành với bần đạo”.

Uparivata trở về tường thuật đúng như lời dặn của Ðại Ðức.

Nghe xong Bà ngẩm nghĩ: tại sao con ta lại trở về và yêu cầu cung cấp chổ nghĩ cho nhiều người quá vậy? Sao lại muốn ở ngay trong phòng lúc xưa nó chào đời? Thí bỏ cuộc đời son trẻ đi tu, bộ khi về già lại muốn làm cư sĩ hay sao?.

Mặc dù nghĩ thế, nhưng bà cũng chuẩn bị thật đầy đủ. Bà con trong làng tập hợp đốt đuốc đi rước Ðại Ðức.Về đến nhà, Ðại Ðức mời chư tăng đến những nơi tạm nghĩ và, sau đó ngài vào căn phòng riêng của mình.

Lúc bấy giờ bịnh đi tả cấp tính bộc phát trầm trọng, Ngài tỏ dấu vô cùng đau đớn. Một cái chậu mang ra thì một cái chậu khác được mang vào. Thấy bệnh tình Ðại Ðức có mòi nguy kịch, mẹ ngài đứng nhìn về phía phòng tôn giả suốt đêm nhưng không dám đến gần. Ngay lúc ấy, bốn vị Thiên Vương thân hành đến gần giường Ðại Ðức, khiến gian phòng rực sáng lạ thường. Ðại Ðức hỏi:

– Các vị là ai?

– Bạch ngài, chúng tôi là Tứ Ðại Thiên Vương.

– Các vị đến có mục đích gì?

– Chúng tôi xin được phục dịch Ngài trong cơn bệnh hoạn.

– Xin các vị an tâm ra về. Ở đây, đã có thị giả chăm sóc bần đạo rồi.

Tứ Ðại Thiên Vương vừa biến mất, thì đức vua trời Ðế Thích Sakka hiện đến. Và sau hết là vị Trời Phạm Thiên đến vấn an. Ðại Ðức đến khiêm tốn trấn an, cảm ơn và xin họ yên tâm ra về. Thấy chuyện lạ, mẹ ngài tìm hỏi thầy Cunda, nhưng Thầy chỉ báo cáo bệnh trạng và bạch cho Ðại Ðức biết là có mẹ đến thăm. Ðại Ðức cho mời vào và hỏi:

– Vì sao Thân mẫu lại đến đây vào giờ này?

– Ðến thăm con, con ạ! Này con, con hãy nói cho mẹ nghe. Những nguuời đến thăm con đầu tiên là ai vậy?

– Thưa mẹ, đó là bốn vị Ðại Thiên Vương.

Bà mẹ trố mắt:

– Bộ con lớn hơn những vị đó sao?

– Thưa mẹ, họ là những nguuời hộ pháp. Khi Ðức Bổn Sư đản sanh, họ cũng phải hầu hạ như những cận vệ quân hầu hạ đức vua vậy.

– Còn vị sau đó là ai?

– Thưa mẹ, đó là vị vua Trời Ðế Thích (Sakka).

– Vậy còn lớn hơn cả vua Trời Ðế Thích nửa sao?

– Thưa mẹ, ông ta cũng nhuu một vị Sadi nhỏ theo hầu một vị Tỳ -kheo. Ngày Ðức Bổn Sư từ tầng trời thứ 33 (Ðạo-lợi-thiên) trở về trái đất, thì chính Vua Trời mang bình bát và y phục tiển đưa Ðức Thế Tôn với tất cả lòng thương kính.

– Còn vị sau cùng là ai, mà hào quang chiếu sáng quá vậy?

– Thưa mẹ, đó là vị Trời Ðại Phạm Thiên, mà mẹ thờ đó.

– Trời! Vậy thì con còn lớn hơn các đấng Ðại Phạm Thiên mà xưa nay mẹ hằng sùng bái nữa sao?

– Vâng thưa mẹ, Vào ngày Ðức Bổn Sư đản sanh, chính bốn vị Ðại Phạm Thiên đã phải đón rước Thánh Nhi trong một vuông lưới báu của cõi trời.

Nghe vậy, mẹ ngài nghĩ: nếu oai lực con ta như vầy thì oai lực Thầy của con ta còn phi thường kỳ vĩ đến mức nào. Trong lúc bà đang suy nghĩ thì luồng điện phỉ lạc chạy tỏa khắp châu thân khiến tâm tư bà vô cùng hoan hỉ. Biết rõ dòng suối thiện tâm đang chuyển hướng chảy về đại dưong công đức, Ðại Ðức khai thông:

– Thưa mẹ, mẹ biết không, trong những ngày như ngày Ðức Bổn Sư ra đời, thành Phật, chuyển Pháp-luân, nhập Niết-bàn và nhiều lần khác nữa, quả địa cầu này đều rung chuyển. Không ai có thể sánh được với Ngài về phương diện giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến.

Ðại Ðức tuần tự giải thích về ân đức Phật một cách khúc chiết và mạch lạc. Khi bài pháp vừa chấm dứt thì bà đắc quả Tu-đà-hườn. quá hoan hỉ với thành quả kỳ diệu bất tử, bà nói:

– Này con yêu dấu của mẹ, thưa Ngài Upatissa, tại sao trong bao lâu nay con không ban bố cho mẹ pháp vị cam lộ này, cho đến hôm nay, con mới trao sự nghiệp kỳ diệu tịnh lạc này?

Ðaị Ðức tự thấy mình đã đền ơn sanh dưỡng của mẹ một cách xứng đáng và trọn vẹn, bèn khuyên Bà trở về tư phòng an nghỉ. Bà đi khỏi, ngài bèn hỏi thầy Cunda đã canh mấy rồi. Ðược biết trời sắp bình minh, Tôn giả nhờ thầy Cunda đở mình ra ngoài phòng khách và cung thỉnh chư tăng vân tập, Tôn giả nói với chư Tỳ-kheo:

– Này chư pháp hữu, các vị đã sống với tôi suốt 44 năm dài. Nếu thân, khẩu, ý tôi có những khuyết điểm nào, xin các vị từ bi hỉ xã.

Chư vị Tỳ-kheo đồng xác nhận là suốt bao năm theo hầu Tôn giả như hình với bóng, quả thật các vị chưa hề có một điều bất mãn nào dù nhỏ. Ðối với Tôn-giả, chư vị lập hứa: Nguyện suốt đời noi gương Tôn-giả dù Ngài khuất bóng. Vì hình ảnh Ngài đã in sâu, đậm nét trong tâm khảm chư vị. Chư vị cũng đồng thanh xin Tôn-giả tha thứ cho những lỗi lầm không thể tránh được. Tôn-giả bày tỏ sự hoan hỉ.

Khi mặt trời vưà ló dạng, Tôn-giả năm nghiêng tay mặt rồi an nhiên nhập diệt. Hôm ấy là ngày trăng tròn tháng Kattika tức ngày rằm tháng chạp Ấn-độ. Cuộc lễ trà tỳ được đặc dưới quyền điều khiển của thầy Cunda. Chư thiên các tầng trời và dân chúng trong thành xá vệ đến chiêm ngưởng đông vô số.

(hết trích)

——————————————

GƯƠNG HIẾU HẠNH CỦA TÔN GIẢ XÁ LỢI PHẤT
Quảng Tánh

Nói đến hiếu hạnh, chúng ta thường nghĩ đến Tôn giả Mục Kiền Liên với hạnh nguyện cứu mẹ thoát khỏi địa ngụcduyên khởi cho thắng hội Vu lan. Tuy nhiên, bên cạnh ánh dương hiếu hạnh của Tôn giả Mục Kiền Liên, trong hàng đại đệ tử Phật còn có nhiều tấm gương hiếu đạo sáng ngời khác, tiêu biểu nhất là Tôn giả Xá Lợi Phất, bậc trí tuệ và hiếu thảo vẹn toàn.

Tôn giả Xá Lợi Phất xuất thân từ giai cấp Bà la mônnổi tiếng thông tuệ từ khi còn thơ ấu. Ngài là niềm tự hào, là hy vọng của gia đình, dòng tộc và nhất là mẹ ngài, bà Xá Lợi, vốn thông minh và có biệt tài hùng biện hằng mong con trai của mình sẽ trở thành một đại luận sư lỗi lạc bậc nhất đương thời. Ấy thế mà lớn lên, Xá Lợi Phất lại rủ bỏ tất cả để đi theo Sa môn Cù Đàmtrở thành trợ thủ đắc lực của Thế Tôn, lại dùng tài trí của mình quy thuận rất nhiều Bà la môn theo Phật giáo. Mặc dù rất thương và tôn trọng quyết định của con nhưng sự kiện Xá Lợi Phất xuất gia đầu Phật đã khiến bà Xá Lợi thất vọng, đau buồn và không hề có thiện cảm với Tăng đoàn.

Khi xuất gia chứng quả A la hán rồi, Tôn giả Xá Lợi Phất biết rất rõ điều ấy, Ngài muốn trở về để thức tỉnh và chuyển hóa mẹ lắm, nhưng vì nhân duyên chưa chín muồi nên đành phải chờ, chờ mãi cho đến khi ngài sắp Niết bàn và mẹ ngài, bà Xá Lợi lúc ấy đã gần 100 tuổi. Khi được tin Xá Lợi Phẩt cùng tùy tùng hơn 500 vị Tỳ kheo sắp trở về nhà, bà Xá Lợi vẫn hờ hững. Dù bấy giờ danh tiếng và oai đức của Xá Lợi Phất đã lẫy lừng khắp thiên hạ nhưng trong lòng bà thì Xá Lợi Phất luôn bé nhỏ và ngay cả Thế Tôn cũng bình thường không thể sánh với đấng Phạm Thiên vĩ đại mà bấy lâu bà vẫn tôn thờ.

Cuộc trùng phùng của tình mẫu tử sau hơn mấy mươi năm xa cách chưa được bao lâu thì Tôn giả Xá Lợi Phất ngã bệnh. Ngài đau thật hay thị hiện thì ta không thể biết nhưng bà Xá Lợi thì tỏ ra rất lo lắng, bồn chồn. Có bà mẹ nào mà không khỏi lo lắng cho con. Đêm ấy bà thao thức mãi, không thể nào chợp mắt được. Bà Xá Lợi lò dò đến thăm con thì bỗng lóa mắt như lạc vào thế giới của Thiên thần. Trong căn phòng của Tôn giả Xá Lợi Phất ngập tràn ánh sáng với vô số Chư Thiên hào quang rực rỡ vây quanh. Không chỉ một mà nhiều phái đoàn chư thiên đến thăm Tôn giả Xá Lợi Phất làm cho bà Xá Lợi ngạc nhiên và mừng rỡ vô cùng. Đây là lần đầu tiên trong cuộc đời bà được chứng kiến cảnh huy hoàng, tráng lệ ấy.

Khi vị trời có hào quang và dung sắc sáng chói nhất cùng tùy tùng ra đi, bà Xá Lợi liền xin phép thị giả Thuần Đà vào thăm Tôn giả Xá Lợi Phất. Bà ta ngạc nhiên đến cùng cực khi biết các phái đoàn thiên thần đến thăm con bà lần lượt là Tứ Đại Thiên VươngĐế Thích và cả Đại Phạm Thiên, đấng toàn năng mà bà hằng quy kính, tôn thờ. Một thoáng suy tư, bà Xá Lợi nghĩ rằng nếu con của ta mà có oai lực lớn đến trời người đều cung kính như vậy thì Đấng Thế Tôn oai lực vĩ đại đến dường nào. Nghĩ đến đây, bà Xá Lợi cảm nhận một niềm hỷ lạc tràn ngập châu thân, tinh thần thư thái vô cùng, niềm tịnh tín Đức Thế Tôn trong bà bừng phát. Nhân đó, Tôn giả Xá Lợi Phất tuần tự giải thích và xưng tán công đức siêu tuyệt của Thế Tôn qua các phương diện giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến. Thật diệu kỳ, khi pháp thoại vừa chấm dứt thì bà Xá Lợi thành tựu Pháp nhãn thanh tịnhtin tưởng bất động vào Thế Tônchứng đắc sơ quả Tu đà hoàn.

Thế là Tôn giả Xá Lợi Phất đã làm tròn bổn phận hiếu đạo của người xuất gia. Tuy không sớm thăm tối viếng, cung phụng ngon ngọt… nhưng đã giúp mẹ thoát được lưới mê, bước vào dòng Thánh, phúc lạc muôn đời.

Không chỉ hóa độ người mẹ trong hiện tại, đối với các bậc sanh thành trong quá khứTôn giả Xá Lợi Phất cũng viên thành hiếu đạo. Ngạ quỷ sự (Tiểu Bộ kinh) kể rằng:

Lúc Thế Tôn ở tại Trúc Lâm, bấy giờ các Tôn giả Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên… đang trú tại một nơi trong khu rừng không xa thành Vương Xá.

Trong đời quá khứ có một phú gia ở thành Ba La Nại thường phát âm cúng dường rộng lớn đến các Sa mônBà la môn và bố thí rộng rãi cho những người nghèo khó. Rồi một hôm, phú gia bận đi làm ăn xa, trước khi đi dặn dò vợ chu toàn công việc bố thí cúng dường. Ông đi rồi, người vợ không những chểnh mảng trách nhiệm cúng dường được chồng giao phó mà còn biểu lộ thái độ khinh khi sỉ nhục những người nghèo khổ. Vì tham lam bỏn sẻn, tạo ác nghiệp nặng nề nên khi từ trần bà tái sanh làm ngạ quỷ chịu nhiều khốn khổ. Nhớ lại những công đức lành mà bà đã làm trong quá khứ, bà mong muốn được gặp Tôn giả Xá Lợi Phất liền tìm đến thành Vương Xá.

Khi đến gần tịnh thất của Tôn giả Xá Lợi Phất, nữ quỷ bị các hộ pháp thiện thần chặn lại, không cho vào. Nữ quỷ nói rằng trong năm kiếp về trước ta là mẹ của Tôn giả Xá Lợi Phất, hãy cho phép ta vào thăm ngài. Khi thấy nữ quỷ, ngài Xá Lợi Phất liền hỏi: Vì sao hình dung người tiều tụy, còn da bọc xươngkhổ não đến thế này? Nữ quỷ thưa rằng: Trong năm kiếp về trước tôi đã từng làm mẹ của Tôn giả. Nhưng vì các ác nghiệp đã gây tạo nên giờ đây bị đọa vào cảnh khổ, không nhà cửa, không có đủ đồ ăn thức uống, luôn bịđói khát hành hạ… Xin Tôn giả rũ lòng thương, vì tôi mà phát tâm bố thícúng dường để thoát khỏi cảnh khổ ngạ quỷ.

Ngày hôm sau, Tôn giả Xá Lợi Phất cùng các Tỷ kheo đến gặp vua Tần Bà Sa La trình bày sự việc, nhờ trợ duyên và được đức vua chấp thuận. Khi lễ vật chuẩn bị xong, Tôn giả Xá Lợi Phất thành tâm dâng cúng lên Đức Phật và chư Tăng khắp mười phương rồi hồi hướng công đức cho nữ quỷ.

Nhờ phước báo ấy mà nữ quỷ, mẹ Tôn giả Xá Lợi Phất trong quá khứ được thoát kiếp ngạ quỷ, sanh lên cõi trời. Và vị thiên nữ với dung sắc thù thắng, xiêm y rực rỡ đã xuống trần gặp Tôn giả Mục Kiền Liên, nói rõ nhân duyên thoát khỏi cảnh khổ đồng thời bày tỏ niềm tri ân vô hạn đến Tôn giả Xá Lợi Phất.

Nhờ sự nỗ lực tu học của mình, Tôn giả Xá Lợi Phất đã hóa độ cha mẹ trong hiện tiền cũng như cứu thoát các bậc cha mẹ trong quá khứ, vượt ra khỏi cảnh khổ. Và đó là tấm gương sáng để cho hàng hậu thế chúng ta học tập, noi theo.

——————————————

CUỘC ĐỜI ĐỨC XÁ LỢI PHẤT (SÀRÌPUTTA)
Soạn Giả: Nyanaponika Thera
Dịch Giả: Nguyễn Ðiều (1966)

(trích Phần 3)
(http://daotrangtuphat.com/cuoc-doi-duc-xa-loi-phat-phan-3/)

Khi Đức Xá Lợi Phất đến Nàlakà vào một buổi chiều, Ngài bèn dừng chân gần một cây đa ở cổng làng. Thình lình lúc ấy có người cháu trai của Ngài nhân việc đi ra ngoài nhìn thấy. Người ấy vội đến đảnh lễ đức Trưởng lão. Xong Ngài bèn hỏi:

– Thân mẫu của bần Tăng có ở nhà không?

Người ấy trả lời: “Bạch Ngài có ạ!“.

Ðức Trưởng lão liền nói: “Vậy phiền ông đi thông báo giùm cho bà biết là bần Tăng sắp về và nếu bà có hỏi chi tiết thì hãy bảo với bà rằng bần Tăng sẽ ở lại trong làng này chỉ một ngày mà thôi! Xin bà cứ sửa soạn căn phòng mà trước đây bần Tăng đã chào đời, và sắp xếp chỗ ở cho năm trăm vị Tỳ-khưu khác nữa nhé“.

Ông Uparevàta, tên người cháu của Ðại Ðức Sàrìputta, sốt sắng đến gặp mẹ Ngài và báo rằng:

– Thưa bà! Ngài Sàrìputta đã về.

Nghe xong bà liền hỏi: “Hiện giờ ông ấy ở đâu?“.

– Thưa bà! Ngài đang ở tại cổng làng.

– Ông ta đi một mình hay có ai nữa không?

– Thưa bà, Ngài về với năm trăm vị Tỳ-khưu.

Khi bà hỏi “Tại sao ông ta về” thì người cháu bèn thuật lại những lời nói của đức Trưởng lão. Bà liền nghĩ “Tại sao ông ta yêu cầu mình cung cấp chỗ ngụ cho rất nhiều người như thế? Phí bỏ thời gian còn trẻ để làm một Sa-môn, bộ khi về già ông ta muốn trở về làm cư sĩ hay sao?“.

Nhưng rồi bà cũng sắp đặt chỗ ngụ đầy đủ như vậy cho đức Trưởng lão và những vị Tỳ-khưu kia. Bà còn đốt nhiều cây đuốc và trao lại cho người cháu đem đến đức Trưởng lão và chư Tăng để soi đường đi về nhà.

Chẳng mấy chốc, Ðại Ðức Sàrìputta cùng với chư Tỳ-khưu đã vào đến sân nhà bà và Ngài tự ý bước thẳng vào căn phòng cũ của mình. Sau đó Ngài nhân danh mẹ Ngài mời tất cả chư Tỳ-khưu đến những chỗ dành riêng cho họ để nghỉ ngơi.

Ðại Ðức Sàrìputta khi ấy chợt cảm thấy một sự đau đớn lan tràn cả thân xác, Ngài vội vã lên nằm trên chiếc giường của mình và nhập ngay vào Ðại Ðịnh. Những Tỳ-khưu có bổn phận hầu hạ Ngài liền túc trực quan sát. Họ thấy da mặt Ngài lúc đỏ lúc xanh, nhưng đức Trưởng lão vẫn nằm im thiêm thiếp, phong thái vẫn bình an. Kế đến từ hạ thân của Ngài thải ra một chất nước. Thì ra Ngài đang bị bịnh đi tả hoành hành. Những học trò của Ngài phải thay phiên nhau tẩy uế. Cứ một chiếc thùng đưa ra thì một thùng khác trao vào.

Người đàn bà Bà-la-môn thoạt đầu có vẻ đố kỵ những vị Tỳ-khưu kia, nhưng khi thấy họ chăm sóc con bà một cách tận tình và kính trọng thì đâm ra có hảo cảm. Rồi càng theo dõi bịnh tình của Ðại Ðức Sàrìputta bà càng lo sợ. Lúc bấy giờ chính bà lại nhận thấy sự có mặt của năm trăm vị Tỳ-khưu kia quả là một điều cần thiết cho bà.

Trong kinh còn thuật lại rằng: Lúc đó có một chuyện lạ xảy ra: Bốn vị Thiên Vương cùng hỏi lẫn nhau “Hiện tại không biết vị Ðại A-la-hán, bậc thông hiểu vạn pháp kia đang trú ngụ nơi đâu?” Cả bốn vị Phạm Thiên ấy đã lập tức thấy rõ Ngài đang ở tại Nàlakà, trong căn phòng Ngài được sinh ra trước đây. Ngài lại đang nằm trên giường bịnh và sắp nhập Niết Bàn.

Liền đó họ cùng bảo nhau giáng trần để chiêm bái Ngài lần chót. Khi bốn vị Thiên Vương đã đến phòng bịnh của Ðại Ðức Sàrìputta, họ tự động dùng thiên lực làm cho cơn đau của đức Trưởng lão giảm xuống, rồi thỉnh Ngài xả thiền để xin lời chỉ dạy.

Ðức Trưởng lão hỏi: – Các ông là ai?

– Bạch Ngài! Chúng tôi là Tứ Ðại Thiên Vương.

– Tại sao các ông đến đây?

– Chúng tôi muốn hầu Ngài trong thời gian bệnh hoạn.

Nghe thế Ðại Ðức Sàrìputta bèn nói:

– Xin để mặc tôi. Vì tôi đã có học trò chăm sóc ở đây rồi, các ông có thể đi đi.

Khi Tứ Ðại Thiên Vương rời khỏi thì có vị vua Trời khác tên Sakka, cũng trong một vẻ tôn kính như thế, lại hiện đến thăm Ngài. Tiếp theo là những vị Ðại Phạm Thiên cũng đến vấn an, nhưng tất cả đều được đức Trưởng lão bảo trở về như trước.

Người đàn bà Bà-la-môn, mẹ Ngài, khi thấy những vị chư Thiên đến rồi đi như thế, bèn tự hỏi: “Họ là ai vậy kìa? – Ai mà đến tôn kính con ta như thế rồi lại đi?“. Bà tới tận cửa phòng của đức Trưởng lão để hỏi thăm Ðại Ðức Cunda về bịnh trạng của Ngài. Ðại Ðức Cunda vốn thấu rõ ý muốn của Ðại Ðức Sàrìputta từ trước nên bước vào trong bạch với Ngài rằng:

– Bạch đức Trưởng lão. Vị đại Tín nữ đã đến.

Ðại Ðức Sàrìputta liền mời bà vô và hỏi:

– Vì sao thân mẫu lại đến đây vào giờ bất thường này?

Bà trả lời:

– Này con! Thân mẫu đến để thăm con. Con hãy nói cho thân mẫu biết những người vừa rồi đến thăm con đầu tiên là ai vậy?

– Thưa thân mẫu! Ðó là bốn vị Ðại Thiên Vương.

Nghe thế bà liền hỏi:

– Như thế thì ông còn cao quí hơn những người đó nữa ư?

Ðức Trưởng lão đáp:

– Họ chỉ là những bậc hộ trì Phật pháp. Khi đức Bổn Sư đản sinh họ chính là những kẻ đến hầu hạ đầu tiên. Trong giáo lý Giải Thoát, họ ví như những cận vệ quân luôn luôn có uy quyền trong tay để bảo vệ một vị Phật Tổ.

– Sau khi họ đi rồi thì vị đến kế tiếp là ai thế?

– Thưa thân mẫu. Ðó là vua Trời Saka.

– Này ông con yêu quí! Ðối với đức vua Trời kia, ông có cao thượng hơn không?

Ðại Ðức Sàrìputta trả lời:

– Thưa thân mẫu! Ông chỉ như vị Sa di là người theo hầu hạ và mang vác những vật dụng của một Tỳ-khưu. Khi đức Bổn Sư từ trên cõi trời thứ ba mươi ba (Tàvatimsa, Ðao Lợi) trở về vị trời Sakka đã mang bát và y phục của Ngài để tiễn Ngài từ Thiên giới đến cõi trần với một lòng tôn kính.

Bà lại hỏi tiếp:

– Và khi vị trời Sakka đi rồi, những vị đến sau đã dùng hào quang làm sáng cả căn phòng này là ai vậy?

– Thưa tín nữ thân mẫu. Ðó là các vị Giáo chủ, những Ðại Phạm Thiên, những Thiên Sư của chính thân mẫu đấy.

– Vậy thì ông là người cao cả nhất. Này ông con quí mến của mẹ, ông còn cao quí hơn những Ðại Phạm Thiên mà xưa nay thân mẫu hằng ngưỡng mộ ư?

– Vâng, thưa thân mẫu. Vào ngày đức Bổn Sư ra đời, thân mẫu nào biết rằng chính bốn vị Ðại Phạm Thiên ấy đã đón rước Ngài trong một vuông lụa đầy hào quang vàng chói.

Khi nghe vậy, mẹ Ngài bèn nghĩ: “Nếu oai lực của người con trai mình như thế thì oai lực vô biên của đấng Bổn Sư ông còn to lớn biết dường nào?“.

Trong khi bà đang phân xét như vậy, bất chợt một sự kính ngưỡng nơi Tam Bảo bỗng phát sinh và phỉ lạc tràn ngập cả tâm tư bà.

Ðức Trưởng lão quán thấy biết rằng sự thỏa thích và niềm tin đã bừng lên trong tâm hồn người mẹ rồi, đây chính là lúc mà Ngài phải thuyết pháp để báo ơn sinh thành dưỡng dục. Ngài hiền hòa hỏi:

– Này thân mẫu tín nữ. Thân mẫu đang suy nghĩ gì vậy?

Bà trả lời:

– Thân mẫu đang suy nghĩ: “Nếu con trai của mình mà có phước hạnh như thế thì ân đức của Phật Thích Ca Cồ Ðàm còn to lớn biết là dường nào?”.

Ðại Ðức Sàrìputta liền tiếp lời:

– Ngay giây phút đức Bổn Sư ra đời, ngay giờ khắc Ngài chứng được quả giải thoát vĩ đại và sau khi đạt đến sự Toàn Giác rồi, Ngài bắt đầu Chuyển pháp luân. Trong ba lần này có hàng vạn hiện tượng cõi đời phải rung chuyển và chấn động. Không có một đấng nào có phước đức ngang hàng với đức Phật. Không có một đấng nào có sự an trụ, có trí tuệ, có hạnh giải thoát, có một độ thuần thục và một sức nhận thức pháp Giải Thoát cao hơn Phật.

Tiếp theo, Ðại Ðức Sàrìputta liền cắt nghĩa cho bà một cách chi tiết những lời tán dương vừa rồi. Chẳng hạn như Ngài nói:

– Thực ra, chỉ có đức Thế Tôn mới là Ðấng Ðại Phúc hơn hết. Vì Ngài đã tròn đủ mười ân đức như: Ứng Cúng (Araham), Chánh Biến Tri (Sam màsambuddho), Minh Hạnh Túc (Vijjàcaranasam panno), Thiện Tuệ (Sugato), Thế Gian Giải (Lokavidù), Vô Thượng Sĩ (Anuttaro), Ðiều Ngự Trượng Phu (Purisadammasàrathi), Thiên Nhơn Sư (Satthàdeva-manussànaô), Phật (Buddho), Thế Tôn (Bhagavà)

Cứ như thế Ngài đã lần lượt làm cho bà thấu hiểu hết Ân đức Phật đến Ân đức Pháp, hết Ân đức Pháp đến Ân Ðức Tăng.

Khi người con cao thượng của bà sắp chấm dứt bài pháp, cụ bà Bà-la-môn tín nữ kia liền đắc quả Nhập Lưu (Tu Ðà Hườn) một cách không dư sót. Và bà nói:

– Này người con đáng kính của mẹ! Này Ngài Upatissa, tại sao trước đây ông không làm như thế để dắt dẫn mẹ? Tại sao trong suốt những năm qua ông không ban bố cho mẹ một sự hiểu biết bất tử này?

Ðức Trưởng lão bèn nghĩ: “Giờ thì ta đã đền đáp xong công ơn sinh thành của người mẹ ta rồi, người thiếu phụ Bà-la-môn mà trước đây dân làng ai cũng tôn kính và đều gọi là Rùpa Sàri. Chính nhờ bà, ta đã nên người. Pháp bảo mà ta vừa giảng cho bà thế là đủ“.

(hết trích)

—————————————————-

Xem thêm: