duong-loi-tu-phat-chon-truyen

Tính đến nay kể từ khi thành lập, Đạo Tràng TU PHẬT đã chia sẻ những bài Pháp được viết và chắt lọc cẩn thận hầu mong thật sự lợi ích cho sự tu hành của Đại chúng với tâm nguyện KHAI CHÁNH KIẾN – CHÁNH TÍN PHẬT PHÁP nơi tâm mỗi người, mong giúp phần nào có thể “LIỄU” được DIỆU PHÁP NHƯ LAI, giải tỏ CHÁNH PHÁP – PHI PHÁP, phân rõ NGỤY – CHƠN, từ đó góp phần HOẰNG KHAI – HỘ TRÌ PHẬT PHÁP, HỒI TÀ HIỂN CHÁNH, NHIÊU ÍCH CHÚNG SANH, CÚNG DƯỜNG CHƯ PHẬT.

Mỗi bài Pháp đều ẩn chứa nhiều Thiền cơ – Diệu ý mà tùy duyên và tâm lượng mỗi người, sự lãnh hội Phật Pháp tự có phần sâu – cạn sai khác. Theo thư nhiều người hỏi, nay tóm gọn, cô đọng lại thành bài ĐƯỜNG LỐI TU PHẬT chia sẻ đến Đại chúng, giúp mọi người rộng mở đường tu, an trú nơi Diệu Pháp Như Lai, thẳng lối quay về nẻo Tâm, tỏ ngộ Phật Tánh.

ĐƯỜNG LỐI TU PHẬT GỒM NHỮNG ĐIỂM CẦN YẾU SAU:

duong-loi-tu-phat-chon-truyen

  1. GIỚI – ĐỊNH – HUỆ. Tu Phật phải đoạn tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến, sát, đạo, dâm, vọng… Tu Phật phải tịnh Thân – Khẩu – Ý, Giới đức nghiêm trì, miên mật công phu Thiền Định trực chỉ chơn Tâm mới mong kiến ngộ Phật tánh. Tuy nhiên, nếu tâm còn chưa TỊNH mà vội hành Thiền thì chắc chắn sẽ lạc vào Tà đạo, bị ma đưa lối – quỷ dẫn đường mà chẳng tự biết, tự thoát. Vì sao? Vì tập khí – nghiệp chướng huân tập bao đời, tham – sân – si – ngã mê sai sử, sát – đạo – dâm – vọng còn đó, ngũ dục mê say…, sao có thể “tịnh” tâm cho nổi mà hành Thiền? Lúc dụng công, nội chướng – ngoại ma khởi lên trùng trùng; ma cảnh ẩn hiện dẫn dắt, khảo đảo, hoành hành; lại mê lầm “chấp thật” sanh tâm niệm bám víu vào đó liền lạc vào Tà Mị không hay. Do đó, TÂM TỊNH là điều kiện tiên quyết để Thiền Định không lạc lối.

Tham khảo:

–   QUẢ BÁO CỦA TÂM SÁT – ĐẠO – DÂM – VỌNG KHI TU THIỀN ĐỊNH

  1. Để TỊNH TÂM, hành giả phải NHIẾP TÂM NIỆM PHẬT. Khi công phu miên mật, nhiếp Tâm thành Giới thì nghiệp chướng bao đời ắt tự tiêu trừ. Do đó, công phu niệm Phật chính là nền tảng cần yếu để hành Thiền sau này, như xây nhà càng cao thì nền móng phải càng kiên cố, vững chắc vậy. Rốt ráo hơn, niệm Phật chính là nền tảng buộc phải có cho sự tu hành giác ngộ – giải thoát, không phân biệt Tông môn (Thiền, Tịnh, Mật). Chư Phật, Lịch Đại Tổ Sư cùng bao đời Cổ Đức đều do niệm Phật mà thành. Nếu thiếu nền tảng này sẽ rất khó tiến tu đúng hướng, ắt lạc vào Tà đạo, Huệ mạng nơi Tam Bảo khó gìn.
  1. Khi niệm Phật có thành tựu sẽ nhận biết được sự thay đổi nơi tâm tánh mình trong sinh hoạt đời thường: tâm sẽ “tịnh”, mọi vọng tưởng, tạp niệm chấp mê, tham-sân-si… tự dần được điều phục. Vọng tưởng, tham chấp… càng tiêu trừ, Tánh Phật càng hiển lộ, Trí Huệ càng sáng trong. Có câu: TRANG NGHIÊM – PHẬT ĐỘ. Nếu hành giả tu hành chơn thật, giới đức trang nghiêm thì diệu dụng từ mỗi thời khắc công phu niệm Phật là BẤT KHẢ TƯ NGHÌ, bởi ngoài tự lực tự cường của bản thân hành trì miên mật còn có tha lực gia hộ của Chư Phật, Chư Hộ Pháp khắp mười phương. Cố gắng tinh tấn đến khi “NHẤT TÂM BẤT LOẠN”, sau đến “VÔ NIỆM” liền thành tựu NIỆM PHẬT BA-LA-MẬT, hành giả TỎ NGỘ PHẬT TÂM – KIẾN TỰ TÁNH PHẬT của chính mình. Đồng thời, CHƠN NGUYỆN sẽ từ TÂM VÔ NIỆM mà khởi phát lên, bởi do “tâm tương tâm” nên được 10 phương Tam Thế Phật ấn chứng. Do đó, rốt ráo mà nói: Vô Tâm Niệm Phật tức Thiền, Thiền tức Mật, tuy ba nhưng không khác, đồng quy về Tự Tánh Phật. Thế mà chúng sanh thời nay do ngã mạn, chấp mê nên chia Tông rẽ phái, phân biệt Đại Thừa – Tiểu Thừa rồi chê bai, khinh mạn, bài xích lẫn nhau, thật là tội lỗi. Còn đâu TỪ BI – TRÍ HUỆ – VÔ TRỤ – VÔ NGÃ nhà Phật?! Vì vậy, người tu hành chân chính không được mống khởi tâm phân biệt, chấp Ngã – chấp Pháp mà khổ đọa muôn kiếp.

Tham khảo thêm các bài viết:

–   CHIA SẺ KINH NGHIỆM CÔNG PHU NIỆM PHẬT
–   HẠNH NGUYỆN CỦA NGƯỜI TU PHẬT

  1. Khi niệm Phật đạt “nhất tâm” cho đến “vô niệm”, “tùy căn cơ” mà “tự tâm” hành giả có thể kết hợp NIỆM PHẬT với THAM THIỀN (TỔ SƯ THIỀN) trong thời công phu của mình. Do Tâm Vô Niệm tức niệm khởi từ Tự Tánh Phật, chẳng từ 6 căn (mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý) nên nói “tự tâm” mà không hề tác ý; đã không tác ý tức “tùy căn cơ” mà hành giả có thể kết hợp Thiền – Tịnh song hành được hay không vậy. Nếu có thể kết hợp thì sự tương hỗ giữa Thiền – Tịnh trong mỗi thời khắc công phu sẽ giúp hành giả “đi” rất nhanh.

Tham khảo thêm các bài viết:

–   CHIA SẺ KINH NGHIỆM THAM TỔ SƯ THIỀN
–   VĨNH MINH – DIÊN THỌ THIỀN SƯ KHAI THỊ
–   Nếu muốn tham khảo thêm về Tổ Sư Thiền, tìm sách của cố Hòa Thượng Thích Duy Lực.

  1. Khi cả công phu Niệm Phật và Tham Thiền đều đạt “VÔ NIỆM” thì tùy căn duyên, “tự tâm” khắc biết sẽ hành trì MẬT CHÚ của Chư Phật, hành giả thênh thang trên con đường MẬT ĐẠO. Việc hành trì chú nào (như Đại Bi, Lục Tự Đại Minh, Chuẩn Đề, Lăng Nghiêm, Bát Nhã, Ngũ bộ chú…) đều do “tự tâm tỏ biết” mà không hề tác ý chọn lựa, muốn, thích… như tâm niệm phân biệt thường tình của thế gian. Hành giả sẽ hành trì bài chú đó, đến khi đạt “vô niệm” thì nhờ mật duyên Phật độ sẽ khắc biết bài chú tiếp theo mình cần trì… Tiếp tục như vậy, hành giả bước từng nấc thang tiến tu trên Mật đạo. Tùy theo tâm lượng và hạnh nguyện của mỗi người mà mật trì vi diệu có khác, chỉ tự mình biết mà thôi. Đến khi tất cả công hạnh tròn đầy thì TỰ TÂM PHẬT CỦA HÀNH GIẢ sẽ khai hoa MẬT CHÚ RIÊNG KHẾ HỢP VỚI HẠNH NGUYỆN CỦA MÌNH như đã nói ở mục 3. Theo thời gian, với mật hạnh mỗi giai đoạn, tầng bậc tiến tu mà CÁC MẬT CHÚ RIÊNG TƯƠNG ƯNG sẽ tuần tự khai hoa để hành giả “tự giác – giác tha, viên mãn hạnh nguyện” mình thệ lập. Đây chính là yếu nghĩa, là sự vi diệu cùng tột của “MẬT”. Đến đây, Pháp tức Vô Pháp, Tịnh-Thiền-Mật dung thông đồng quy Tự Tánh Phật, trong mỗi thời – khắc – sát na công phu thì diệu dụng hóa độ chúng sanh nơi khôn cùng cảnh giới khắp 10 phương là vô lượng vô biên, bất khả tư nghì.

Tham khảo thêm các bài viết:

–   MẬT TÔNG
–   VÔ NIỆM – SỰ QUY NHẤT CỦA THIỀN-TỊNH-MẬT

Đó là đường lối công phu tu hành: GIỚI – ĐỊNH – HUỆ. Ngoài ra, hành giả cần nên lưu ý:

  1. Khi công phu, hành giả tuyệt đối không sanh tâm chấp trước, dính mắc với bất kỳ sắc tướng, trạng thái, cảm thọ, ma cảnh… nào diễn ra, kẻo bị lạc. Chỉ trụ tâm nơi câu Phật hiệu hay chiếu cố Thoại đầu mà thôi, ngoài ra KHÔNG BIẾT. Ngược lại sẽ lạc vào Ma cảnh mà nhập Tà Mị không hay. Hãy luôn ghi nhớ!
  1. Suốt đời, phải biết điều phục ba nghiệp THÂN – KHẨU – Ý cho thanh tịnh, noi theo gương trọn lành của Chư Phật mà tu hành. Đồng thời phải ngăn ngừa, đoạn trừ các tật xấu làm lao tâm tổn đức như: cống cao ngã mạn, tự phụ kiêu căng, khinh người hại vật, sát – đạo – dâm – vọng…
  1. Trong sinh hoạt thường nhật, nhất thiết phải trưởng dưỡng tâm TỪ – BI – HỶ – XẢ; nghiêm trì GIỚI – ĐỊNH – HUỆ; y theo BÁT CHÁNH ĐẠOLỤC ĐỘ mà sống và tu hành; lại thường nguyện sám hối tam nghiệp tội; dứt điều dữ – năng làm việc lành, trau dồi tâm đức; nguyện trọn đời quy y Phật-Pháp-Tăng, giữ một lòng y giáo phụng hành (VĂN – TƯ – TU, TỨ Y PHÁP); nguyện cần học Chánh pháp, cần tu Chánh đạo không hề thối chuyển; nguyện sống đời thiểu dục – tri túc, an bần thủ đạo, xã kỷ lợi sanh; nguyện góp phần hoằng truyền Phật Pháp, nhiêu ích chúng sanh…

Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ,
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn,
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học,
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

  1. Phước Huệ song tu – Duy Tuệ thị nghiệp. Muốn tiến tu Phật đạo, hành giả tu Phật phải vuông tròn hiếu đạo – nhơn đạo, tùy duyên làm các việc phước đức khế hiệp với luật nhân quả như: bố thí (tài thí, Pháp thí, vô úy thí), phóng sanh, cứu kẻ lâm nguy, sẵn sàng độ lượng, quảng đại vị tha, san sẻ khốn khó với những mảnh đời bất hạnh, tùy khả năng và cơ duyên giúp xã hội nhơn sinh tiến hóa lành mạnh, đạo đức thăng hoa, tốt Đời đẹp Đạo… Tuy nhiên, đừng vọng cầu tham Phước hữu vi thế gian (phước đức) mà buông bỏ công phu tu hành GIỚI – THIỀN-ĐỊNH – HUỆ giải thoát vô vi (công đức) khiến cho thối thất đạo nghiệp. Đa phần người tu thời nay thường vọng lăng xăng với nhiễu Sự bên ngoài mà quên mất bổn Tâm, bỏ gốc tầm ngọn, uổng phí một đời tu.
  1. Phàm khi làm được phước/công đức chi, Phật tử nên Từ Bi Hỷ Xả phước/công đức ấy mà nguyện hồi hướng cho tất cả chúng sanh đồng an trú trong tâm niệm: DIỆU A DI ĐÀ PHẬT.

Nhứt giả: LỄ KÍNH CHƯ PHẬT
Nhị giả: XƯNG TÁN NHƯ LAI
Tam giả: QUẢNG TU CÚNG DƯỜNG
Tứ giả: SÁM HỐI NGHIỆP CHƯỚNG
Ngũ giả: TÙY HỶ CÔNG ĐỨC
Lục giả: THỈNH CHUYỂN PHÁP LUÂN
Thất giả: THỈNH PHẬT TRỤ THẾ
Bát giả: THƯỜNG TÙY PHẬT HỌC
Cửu giả: HẰNG THUẬN CHÚNG SANH
Thập giả: PHỔ GIAI HỒI HƯỚNG

  1. TU PHẬT, quyết không HỌC PHẬT. Chơn Kinh ở đâu? Nếu dùng trí Ta Bà, dẫu được mang thân Người vạn kiếp để “học Phật” thì cũng không sao lãnh hội được Pháp vị giải thoát của Như Lai. Và quan trọng hơn hết, đó có phải là đại sự tu hành mà người tu Phật hướng tới? Là bậc giác ngộ, liễu thoát tử sanh, kế thừa Phật nguyện hay là cái đãi sách biết nói, sanh tử mãi trôi lăn? Nên biết rằng Định – Huệ không từ nơi học, hiểu, nghiên cứu Giáo pháp suông vì phàm phu thì trí lực có giới hạn, lại bị nghiệp lực – ngã mê chi phối nên thường lầm lạc, rất khó “liễu ngộ” Diệu ý Chơn-Kinh; hơn nữa tham cứu nhiều Kinh điển sẽ loạn tâm, sanh kiến chấp, tri chướng làm cản trở công phu nhiếp tâm. Diệu lý chư Phật vốn chẳng dính dáng văn tự; “Kiến, Văn, Giác, Tri” là chướng trên đường tu Phật, mọi bằng cấp Phật học thế gian càng chẳng liên hệ gì đến đạo nghiệp giác ngộ, giải thoát tử sanh. ĐẠO TẠI TÂM HÀNH MÀ NGỘ, CHẲNG DO TRÍ PHÀM HỌC MÀ ĐẮC. PHẬT PHÁP TẠI TÂM. Hành giả chỉ nên nắm ngay cốt tuỷ nhà Phật rồi miên mật hành trì mới mong thành tựu.
  1. Người tu hành cần phá trừ chấp ngã – chấp Pháp. Nếu “học Phật” suông thì sẽ không sao đoạn trừ 2 thứ chấp này mà càng lúc càng bồi chúng thêm chất ngất, sanh tử mãi trầm mê. Còn nếu “tu Phật” chơn thật thì an nhiên tự tại đường về, lo gì chuyện tử – sanh trong mai hậu. Hành trì miên mật thế nào, thành tựu tu hành ra sao là do tâm lượng của mỗi người vậy.

Mong tất cả tỉnh tâm tu Phật!

Diệu A Di Đà Phật _()_

Cổ Tự chơn ngôn: Cổ cổ diệu đại cổ Phật hám yết đế Phật hồng tát đa, cổ diệu hám tát đa Phật hồng diệu thiên, cổ diệu hám ưu tát đa, cổ diệu hám ưu mưu ni, cổ diệu hám ưu điệt để, cổ cổ tát đát đa phá ra mưu ni a nâu tư để A Di Đà hật, a ra ca hật, cổ cổ hật cổ cổ mật. Cổ cổ diệu hám yết đế yết hồng, cổ tát hồng diệu hồng diệu thiên A Di Đà hật, cổ tát đát đa A Di Đà hật, cổ cổ Phật cổ cổ mật. Cổ cổ diệu hám ưu mưu ni ma ni chiết lệ bát di hồng A Di Đà hật cổ cổ mật yết lệ chủ lệ Chuẩn Đề, cổ Phật lam bộ lâm xỉ lâm A Di Đà Phật cổ cổ Phật. Cổ cổ diệu hám án a ác a vạn diệu đại cổ Phật huệ tát đa Phật ác, cổ diệu hám a hật hồng, cổ diệu hám ưu tát đa hồng ưu tà không hồng hật Phật mật diệu đại cổ Phật từ A Di Đà Phật cổ cổ Phật _()_

Cổ Thiên