duc-phat-voi-bat-chanh-dao

Nhân loại hiện nay đang phải đối diện với quá nhiều vấn đề nhức nhối trong xã hội, nào là tham nhũng, ma tuý, mại dâm, giáo dục, gia đình… Những u nhọt này không ngừng lây lan, truyền nhiễm, biến tướng khôn lường mà không phân biệt chủng tộc, biên giới, tôn giáo. Đời sống thanh tịnh chốn Phật môn, như một điều tất yếu, đã bị thế tục hoá một cách trầm trọng gây ảnh hưởng không nhỏ đến tín tâm của mọi người. Trước thực trạng này, người tu Phật hiện nay phải làm gì để miễn nhiễm và vượt “chướng” mà tiến tu?

1. Tham – Sân – Si

chuong-tham-san-si

– Cư sĩ: Sống đời thế tục vốn nhiều nỗi lo toan, nhiều mối duyên ràng buộc. Đối với người thế tục thì công danh – sự nghiệp – gia đình là mục tiêu, là ý nghĩa của cuộc sống. Để được ăn ngon, mặc đẹp, ở nhà cao cửa rộng, tiện nghi đầy đủ, người đời đôi khi bất chấp thủ đoạn, sẵn sàng hy sinh tình thân, bán đứng nhân cách, không còn biết đến nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Nay biết đến Phật Pháp, tin sâu lý nhân quả – vô thường, người cư sĩ trước khi làm gì cũng cần nên thận trọng, đắn đo, suy nghĩ đến hậu quả của việc mình sắp làm. Mọi việc đều nên theo tinh thần Bát-chánh-đạo của nhà Phật.

– Tu sĩ: một thực trạng đáng buồn là đời sống giới tu sĩ hiện nay quá xa hoa, trái ngược với lời Phật dạy. Đức Phật từ một vị Thái tử có tất cả trong tay lại buông xả tất cả, kể cả tình thân, để tầm phương giải thoát sanh tử cho chúng sanh. Còn đa phần người tu hiện nay thì làm ngược lại, muốn thâu gom, tích trữ tiền bạc, của cải cúng dường của bá tánh thập phương. Xài điện thoại sang, đi xe đời mới, ăn phi thời – phi chỗ, lôi kéo Phật tử cúng dường. Tệ hơn còn phá giới, dâm ô chốn Phật môn, oai nghi không giữ mà đàn ca múa hát, hút thuốc phì phèo, rượu bia trác táng chẳng khác gì phàm phu… Còn đâu bổn nguyện cứu độ chúng sanh, tiếp nối huệ mạng Phật Pháp (?). Biết tội mà vẫn phạm thì tội này ai cứu nổi, sẽ khổ đọa muôn kiếp.

2. Không có niềm tin chơn chánh

kien-giai-va-hanh-tri-sai-lech-trong-tu-phat

– Cư sĩ: cần phải có niềm tin chơn chánh, tin sâu lý nhân quả, ngộ vạn vật vô thường. Tin rằng tu Phật sẽ giúp mình trả nghiệp, được giải thoát khỏi biển khổ sanh tử nếu hành trì đúng lời Phật dạy. Tin vào Tự Tánh Phật của chính mình mà nỗ lực tinh tấn tu hành, không mê cầu chướng trái. Đáng tiếc đa phần cư sĩ hiện nay tìm về Phật đạo là để cầu xin, cúng bái, cầu tự… cho thoả dục vọng tham-sân-si của mình.  Họ không biết tất cả tội-phước đều do mình tạo tác, nhân quả công bằng.

– Tu sĩ: để đáp ứng cho nguyện vọng trên của hàng cư sĩ, giới tu sĩ hăng say tổ chức các nghi lễ cúng bái, cầu xin đầy màu sắc mê tín, góp phần biến đạo Phật thành đạo thần thánh, đạo tà. Tất cả cũng vì lợi lộc bởi số tiền Phật tử bỏ ra cho những nghi thức này không hề nhỏ. Thay vì xiển dương giáo lý Phật đà cho mọi người hiểu để có niềm tin chơn chánh, họ a dua theo để “hái tiền” rồi tích trữ làm của riêng. Ai lên tiếng vì Chánh pháp thì họ nguỵ biện bằng mọi lẽ, nào là phương tiện thiện xảo, nào là sự tuỳ duyên bất biến của đạo Phật… Niềm tin nơi giới tu sĩ còn mê mờ bất chánh, tâm tham-sân-si còn đầy dẫy như vậy thì sao có thể hướng cư sĩ “Chánh tín, Chánh nghiệp” được?!

3. Học Phật thích hơn Tu Phật

Đây là cái bệnh chung của cả giới tu sĩ và cư sĩ. Vì sao? Vì học thì dễ nhưng thực hành thì khó. Chỉ việc ăn chay thôi cũng không dễ chút nào, nói gì đến bố thí, tham thiền, niệm Phật, trì chú. Học Phật thì có phân biệt trình độ, có văn bằng chứng nhận rõ ràng (cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ Phật học) nhưng tu Phật thì lấy gì để chứng? Bằng cấp Phật học thế gian chẳng có nghĩa lý gì, dính dáng gì đến sự giác ngộ vì đó chỉ là học Phật. Với sự tu hành, người thế gian có thể qua mặt được nhau chứ không thể che mắt được Quỷ-thần, chứ đừng nói đến chư Phật. Thế nên tu Phật chứ đừng học Phật.

chuong-kien-van-giac-triTrong tu Phật, kiến-văn-giác-tri là chướng, là tâm bệnh. Khi tiếp xúc ngoại duyên thì mắt thấy (kiến), tai nghe (văn); mũi-miệng-thân sanh ra cảm giác (giác), ý sanh ra khái niệm hiểu biết (tri). Đó chính là nghiệp thức, là sự hiểu biết được tích luỹ từ học hỏi trong kiếp sống quá khứ cho đến hiện tại nên sanh diệt luân hồi. Đây chẳng phải là Trí Huệ Vô Sư vốn chỉ tự khai mở được khi hành giả niệm Phật hay tham thiền đạt đến cảnh giới Tam Muội (Vô Niệm). Do đó, sự vi diệu của Phật Pháp không thể dùng kiến-văn-giác-tri mà lãnh hội được. Đứa bé vài tuổi có thể làu làu Kinh điển không thua kém ai, nhưng kẻ sống đến bạc đầu chưa chắc thực hành đốn bỏ nổi tham-sân-si. Tiến sĩ Phật học có thể giảng thuyết hay, nhưng với đại sự sanh tử thì chẳng dính dáng gì nếu chỉ học mà không tu. Đừng vì chút kiến thức hay bằng cấp Phật học có được mà giải đãi, kiêu căng, chấp ngã, chấp pháp.

thien-dinh-3

Vậy, tu thế nào? Chưa biết chút gì Phật Pháp thì nên tìm hiểu căn bản giáo lý nhà Phật, tạm gói gọn là “Khổ, Không, Vô thường, Vô ngã, Từ Bi”. Khi có căn bản Phật Pháp làm kim chỉ nam cho đời sống hàng ngày rồi thì cố gắng dụng công, với mọi sự ở thế gian đừng sanh tâm chấp trước vì có gì trên đời tồn tại mãi đâu. Dùng câu niệm Phật hay thoại đầu thu nhiếp vọng niệm, điều phục 6 căn (mắt, tai, mũi, mệng, thân, ý) không cho thức sanh khởi, kể cả tri kiến về Phật Pháp cũng buông bỏ luôn, làm kẻ ngu ngơ chẳng thấy-chẳng nghe-chẳng biết, mọi lúc mọi nơi chỉ chiếu cố câu niệm Phật (hay thoại đầu) sao cho miên mật thì sẽ có ngày thành tựu Nhất tâm, tiến tới Vô Niệm khai mở Trí Huệ Vô Sư mà kiến Tánh.

4. Mong cầu phước báu, diệu dụng

sen-vo-nhiem-4

– Cư sĩ: khi làm được việc phước thiện thì tâm hay mong cầu phước báu. Niệm Phật thì tính đếm bao nhiêu niệm, lạy Phật bao nhiêu lần. Nhiều người nghĩ rằng niệm nhiều, lạy nhiều thì được nhiều phước. Nên nhớ phước chẳng do nơi thân làm hay miệng nói mà do dụng tâm ý thế nào, có Từ Bi vô ngã hay không. Nên trưởng dưỡng tâm Từ Bi Hỷ Xả – Vô ngã – Vô trụ mà tu hành. Đừng sanh niệm nhân-ngã khi tu Phật.

 Ví dụ: một người giàu có bố thí cả trăm triệu mà chủ yếu để đánh bóng tên tuổi, mong được người biết ơn, hay mong cầu phước báu, xem việc thiện mình làm như chuyện đầu tư ngân hàng phước… thì chẳng được gì. Còn một người nghèo ngày kiếm được vài chục ngàn, khi gặp đồng cảnh ngộ mà sanh tâm đồng cảm thương xót, liền bố thí mà chẳng nghĩ ngợi gì, chỉ mong sao cho người đó được đỡ dạ qua cơn khốn khó thì do tâm lượng nên phước báu vô cùng. Phước do tâm sanh!

– Tu sĩ: khi dụng công phu thường sanh tâm mong cầu diệu dụng. Mong thấy cảnh lành ứng hiện khi niệm Phật, tham thiền, trì chú. Mong mình mau giác ngộ, kiến Tánh. Mong được thần thông, thấy nghe vô ngại… Nên nhớ khi dụng công, tâm mong gì thì Ma cảnh sẽ hiện ra chiêu dụ, dẫn dắt. Tâm mong thấy Phật khi hành thiền thì Ma hiện giả Phật, mong thấy cảnh lành thì Ma hiện cảnh lành… Dần dần tâm sanh vui thích, bám chấp nơi Ma cảnh mà chẳng thể tự thoát, bị tẩu hoả nhập Ma, điên loạn là vậy. Đã có bao người tu thiền, niệm Phật hay trì chú bị như thế. Hãy nhớ: chỉ nên trụ tâm nơi Phật hiệu, thoại đầu hay mật chú mà thôi!

5. Thần thánh hoá người tu sĩ

benh-than-thanh-hoa-trong-tu-phat

Tôn kính Tăng-Ni là tốt, nhưng thần thánh hoá họ là không nên. Họ cũng như mình, đang trên lộ trình tu Phật, chỉ khác biệt ở chỗ hình tướng và có thiện duyên xuất gia mà thôi. Họ cũng còn niệm tham, sân, si, cũng còn nhân-ngã vi tế trong tâm. Nhiều vị cư sĩ quỳ lạy Tăng-Ni như lạy Phật, điều này thật không nên mà chỉ cần đứng chấp tay xá Tánh Phật của Tăng lữ thôi. Cũng vậy, khi chưa kiến Tánh, tu sĩ cần khiêm cung, tuyệt đối không nên thọ nhận dù một cái quỳ lễ lạy của ai mà tổn phước, bởi thân được sống mà tu hành là nhờ Phật tử, đại sự sanh tử của mình chưa “đoạn” được thì đừng sanh tâm ngã mạn, tự xem mình là “Bề trên” để cho chúng sanh – Phật tử quỳ lễ lạy. Chỉ nên với tinh thần Bình Đẳng – Vô Ngã mà nhận cái đứng (chứ không phải quỳ) chắp tay hiệp chưởng xá của quý Phật tử, đồng thời mình phải xá lại Tánh Phật của họ thôi. Do đó, nếu thần thánh hoá tu sĩ, họ sẽ sanh tâm ngã mạn, tham-sân-si sẽ dấy khởi làm thối thất đạo niệm, quên mất Bổn tâm. Tình trạng tha hoá của người tu sĩ hiện nay, đặc biệt là đời sống xa hoa của họ, trong khi bên ngoài còn bao mảnh đời bất hạnh, cơ khổ, cũng phần nào do người Phật tử sùng kính họ thái quá mà ra. Nhiều vị tu sĩ muốn làm gì, cần bao nhiêu còn thẳng thắn đề nghị đệ tử tại gia của mình cúng dường, thật hết chỗ nói. Phật tử thì nghĩ họ là Bồ Tát, là Thầy tu, lại hay mong cầu phước báu nên nhắm mắt vô tư cúng dường; còn tu sĩ thì không đổ mồ hôi, sôi nước mắt kiếm ra tiền nên khi của cúng dường bày sẵn trước mắt thì lâu ngày dài tháng rất dễ sanh tâm tà tư, lợi dưỡng. Vì thế, Quý cư sĩ cần dùng Chánh kiến xét suy, Trí huệ tỏ biết chơn tu với giả tu khi cúng dường, đừng vì thiện tâm của mình mà vô tình tạo nghiệp không hay, tiếp tay cho Tà sư lợi dưỡng, mượn Đạo tạo Đời thì khổ nghiệp đồng gánh. Bậc chơn tu đâu cần hình tướng; tiền tài, danh lợi họ xem như cỏ rác. Chiếc áo cà sa – đầu trọc không làm nên người tu. Tu Phật là tu tâm chứ chẳng phải tu tướng, tu tiền. Những vị tu sĩ mà còn trọng hình tướng cũng cần nên xem lại mà tự cảnh tỉnh. Đừng để vô minh, tham sân si, ngã mạn dẫn dắt mà lạc Đạo Bồ Đề, Phật chủng đoạn dứt, trầm luân khổ đọa, muôn kiếp bất siêu.

6. Thoái tâm Bồ Đề

sen-vo-nhiem-3

– Cư sĩ: có câu “Có thực mới vực được Đạo”. Cuộc mưu sinh gian khổ, rồi nghiệp lực theo nhân quả chiêu cảm thọ báo hiện tiền khiến cho nhiều người cư sĩ thối thất tâm Bồ-đề. Hoặc quá trình tu hành không mang lại nhiều lợi lạc như ý, hay cái khó vốn có của sự tu hành hướng Phật khiến họ không thể kham nổi (ăn chay, ngồi thiền, bố thí…), hoặc bao nhiêu năm trong đạo vẫn không tìm được Bậc minh sư, đường tu vẫn cứ mơ hồ… Đủ thứ nghịch duyên, nội chướng trở ngại, ma khảo hoành hành… Suy cho cùng là do nghiệp lực cản trở, chi phối.

Quý cư sĩ nhớ rằng, tu Phật không dễ, không ai trải thảm mình đi, Chư Phật chỉ là Thầy dẫn đường. Nghiệp lực sâu dày nhiều đời, nếu không nhờ Phật Pháp xoay chuyển, hoá giải thì sẽ mãi trầm mê. Đời người ngắn ngủi, giỏi lắm vài chục năm rồi ai ai cũng một nấm mồ chung cuộc. Được – mất, khen – chê, vui – buồn, sướng – khổ, có gì thật đâu nên đừng chấp trước, phiền não. Chỉ có tu Phật mới giúp mình thoát khổ, chuyển mê khai ngộ, và chỉ có mình mới cứu được mình thôi. Nghĩ thế, dù có trở ngại khó khăn đến đâu thì cũng xem như cơ hội trả nghiệp, đồng thời an nhiên niệm Phật (tham thiền, trì chú) mà dụng công sớm tối đêm ngày, tâm thiền miên mật. Tự tâm sẽ an!

– Tu sĩ: như trên nói, đa phần do vô minh nghiệp chướng nên dù xuất gia rồi, tâm vẫn còn chạy theo sắc dục, tiền tình của thế gian mà tự đánh mất đường tu. Họ kêu gọi cúng dường, lạm dụng của thường trụ mà cố xây chùa to rộng, ở chỗ tiện nghi chẳng thiếu thứ gì, đi đứng có người đưa, kẻ hầu quạt, lọng che như quan chức. Việc thiện họ làm thì mong nhận bằng khen “công đức” (?) do chính quyền cấp, Giáo hội ban; khi có nó rồi thì mang ra loè mắt Phật tử cho thấy công cán, kêu gọi tiếp tục đóng góp. Lấy tiền của Phật tử làm của mình, rồi khoe được chính quyền ghi nhận, đánh bóng tên tuổi chùa và cá nhân để kêu gọi cúng dường hùn phước, thử hỏi có khác gì kẻ cướp bòn mót công và phước đức của thập phương Thiện Tín (?). Ngoài ra, khi gia đình có hữu sự, tu sĩ còn trắng trợn ra giá cho một buổi lễ cầu siêu nếu Phật tử muốn mời. Phật tử muốn lên Chánh điện lễ Phật, trụ trì chùa còn quy định bắt buộc họ phải có (mua) áo tràng mới được phép. Họ buôn Kinh bán Phật, vị giải thoát bị biến tướng thành đủ vị sanh diệt chốn Phật môn. Đau xót hơn, họ phá Giới luật dưới danh nghĩa đạo Phật, nguỵ biện bằng mọi lẽ cong vạy theo ý mê, tà kiến của mình. Tình trạng tu sĩ đua nhau đàn ca, xướng hát, quay phim tung lên mạng để câu “like” (thích), rồi dâm ô trụy lạc nơi nhà nghĩ, thậm chí tại chốn Thiền môn thanh tịnh đang làm nhức mắt, xót tâm biết bao người. Than ôi! Đây chính là những chướng ma đội lốt tu sĩ làm suy vi Phật Pháp, phá Đạo Phật truyền, là “Sư tử trùng thực sư tử nhục” như lời Phật dạy năm xưa. Đạo Phật từ bi nhưng trí huệ, vậy mong lắm thay người tu Phật có đầy đủ đức hạnh Bi – Trí – Dũng, đừng lầm lẫn u mê theo Ma sự, điên đảo Phật Pháp, “hộ trì” những chướng ma phá Đạo Phật truyền thì cộng nghiệp trả đền là điều chắn chắn.

7. Bản ngã

thien-dinh-1

Sự nổi tiếng chỉ là hư danh, không nói lên sự giác ngộ trong tâm, với đại sự sanh tử càng chẳng dính dáng gì. Cũng vậy, thời gian tu hành không nói lên đạo hạnh của người tu, bởi tùy vào nghiệp duyên, căn trí và tâm lượng. Một vị tu cao niên chưa hẳn đã “giác”, còn người mới nhập đạo không hẳn họ còn “mê”. Gương Đức Lục Tổ Huệ Năng còn đó, chớ lầm khinh hậu học, chấp ngã cống cao. Hãy theo tinh thần Văn – Tư – Tu, Tứ Y Pháp (y pháp bất y nhân, y nghĩa bất y văn, y tánh bất y tướng, y liễu nghĩa bất y liễu nghĩa) mà trạch Pháp, tu hành. Sách tấn nhau trên tinh thần Lục hoà, tránh hơn thua nơi luận đạo theo thói tục nhưng phải trạch Pháp tỏ chơn. Mọi sự hãy “ưng vô sở trụ” mà sống và tu hành. Quý cư sĩ và tu sĩ nên lưu ý.

*** TÓM LẠI

Thân người khó được, Phật Pháp khó nghe, hành trì sao cho đúng với Chánh Pháp Phật lại càng khó muôn phần, nhất là thời buổi hiện nay. Và lành thay cho những người con Phật, tại gia cũng như xuất gia, tu hành chân chánh. Giới luật còn thì Phật Pháp còn. Đạo Phật thịnh hay suy là do sự tu hành chân chánh của những người con Phật.

Những ai (đang) mê lầm, mong hãy tỉnh giác, hồi tâm, sám hối, tu chơn thì không gì quý bằng.

Mong tất cả tỉnh tâm tu Phật!

Diệu A Di Đà Phật _()_

Cổ Thiên