niem-hoa-thi-chung

Tham thiền, hay còn gọi là Tham Tổ Sư Thiền, có khởi nguồn từ Đức Phật với điển tích “Niêm hoa thị chúng” chốn Phật môn được lưu truyền hậu thế là dấu son vàng minh chứng cho tâm hạnh Từ Bi – Trí Huệ – Bình Đẳng và Giải Thoát của Phật-đà, cho thành tựu tu hành chơn chánh của những người con Phật, là cột mốc đánh dấu sự truyền thừa Phật Pháp tại thế gian. Kể từ đó, đã xuất sanh bao Bậc minh-tâm kiến-tánh, dĩ tâm ấn tâm tiếp nối bổn hoài Chư Phật, đời đời không dứt.

Với tâm nguyện giúp các hành giả tu thiền có lợi ích thiết thực cho công phu của mình, nay chia sẻ kinh nghiệm thực hành Tham Tổ Sư Thiền của bản thân đến Đại chúng. Về giáo lý, quý vị có thể tìm đọc sách của cố Hòa thượng Thích Duy Lực.

 1. Chọn câu thoại đầu

Có nhiều câu thoại đầu để tham thiền, chẳng hạn như: “Khi chưa có trời đất, ta là gì?“, hay “Ai đang niệm Phật?”…, hành giả cứ chọn lấy một câu hợp ý rồi dụng công. Tuy nhiên, theo hành giả, việc chọn câu thoại đầu sao cho dễ phát khởi nghi tình là quan trọng nhất, vì nó có ảnh hưởng rất lớn đến sự tiến triển của công phu. Vì sao? Vì tâm chúng ta tự vô thỉ vốn ham tìm tòi, hiểu biết và ghi nhận. Ở đời có câu: “Học, học nữa, học mãi”. Nếu không ham hiểu biết và học hỏi, người đó sẽ tụt hậu với bạn bè, đồng nghiệp và chính bản thân mình trước những trào lưu và tiến bộ của khoa học – công nghệ, văn minh của xã hội. Mới cũng học, cũ (nếu chưa biết) cũng học. Rộng hơn, điều hay cũng học (đạo đức, đạo lý), điều dở (xấu) cũng học (học đòi, tập nhiễm)… Mà cuộc sống thì muôn màu muôn vẻ nên với người thế tục thì tâm không ngừng tích lũy, thâu gom, xét nét, suy tư… Dụng tâm này (trí hiểu biết thế gian) sẽ cản trở rất nhiều đến sự tham thiền, vốn lội ngược dòng nghiệp thức huân tập bao đời để tầm về Trí Vô Sư, Tánh Phật. Do đó, với những câu thoại đầu khi hỏi mà tâm, trong bất giác mơ hồ, có thể dùng trí thức phàm phu để trả lời được thì không nên chọn, vì khó phát khởi nghi tình (do tập khí lâu đời nên tâm thường truy tìm đáp án cho câu hỏi). Ví dụ:

–   Khi hỏi “Ai đang niệm Phật?” thì theo tập khí, tự tâm liền trả lời: “Tôi” (chứ ai nữa). Mà tự có câu trả lời, dù ẩn vi tế trong tâm, cũng rất khó phát nghi tình. 

–   Khi hỏi “Khi chưa có trời đất, ta là gì?“, ta thật sự không biết (nghi tình) và không thể trả lời cho câu hỏi này. Vì vậy, nghi tình rất dễ khởi khi tham.

Do đó, hành giả nên cân nhắc chọn câu thoại đầu sao cho dễ khởi nghi tình (tức “không biết”) trước khi hạ thủ công phu.

2. Thực hành

Khi khởi câu thoại đầu lên, do “không biết” (không thể trả lời) nên tâm sanh nghi tình. Cố gắng trụ (ghìm) tâm nơi nghi tình (chỗ “không biết” đó) mà tiếp tục đề khởi câu thoại đầu lên, giữ sao cho “vừa hỏi – vừa nghi” một cách liên tục, không gián đoạn. Hành trì miên mật như thế tự sẽ đốn sạch tận gốc rễ mọi trí thức Ta-bà thế gian, từ đó Trí Huệ Vô Sư dần khai mở, Tánh Phật hiện tiền.

tham-to-su-thien

Ví dụ: tâm bắt đầu khởi “Khi chưa có trời đất, ta là gì? Không biết”, liền tiếp tục khán “Khi chưa có trời đất, ta là gì? Không biết”, “Khi chưa có trời đất, ta là gì? Không biết”, “Khi chưa có trời đất, ta là gì? Không biết”… Hành giả cứ thế mà khán liên tục, vừa hỏi vừa nghi sao cho miên mật, không gián đoạn, không kẽ hở đan xen.

Khi mới dụng công thì tùy mỗi người mà tâm khởi phát nghi tình mau hay chậm. Tại đây mới thấy lợi ích của việc chọn câu thoại đầu nào giúp hành giả dễ “nghi” như đã giảng ở trên. Hành giả rất dễ nản lòng bởi khó trụ nơi nghi tình; đôi khi nhiều tạp niệm đan xen khiến không thể chiếu cố thoại đầu; hoặc sanh tâm nghi hoặc nơi pháp môn mình đang hành trì; hoặc chán ngán không muốn dụng công, tâm sanh lười biếng; hoặc có lúc dụng công quá mức, khiến thân tâm khó điều hoà… Ngoài ra, còn có một số biểu hiện ở thân như cảm giác có khí bốc lên ở chân tóc, mặt thì ngứa lâm râm ở các lỗ chân lông… Tất cả đều do tập nghiệp lâu đời mà sanh chướng khi dụng công; tuy nhiên, nhờ tham thiền nên hành giả có thể dễ dàng nhận ra những túc nghiệp đó biểu hiện trên thân tâm của mình lúc công phu. Để khắc phục, ta chỉ nên tập trung sức chú ý nơi câu thoại, vừa hỏi vừa nghi liên tục miên mật; ngoài ra, “không biết” đến ngoại cảnh xung quanh, cảm thọ… nơi thân cũng như tạp niệm, cảnh vọng… sinh khởi trong tâm. Hãy để mặc nó, tự đến sẽ tự đi. 

Khi công phu quen dần theo thời gian, tâm rất dễ sanh nghi tình. Có khi vừa mới khởi vài từ trong câu thoại đầu lên là tâm liền sanh nghi. Có khi niệm khán – nghi (khán thoại đầu – nghi tình) tiếp nối nhau tăng tốc, tâm cuốn theo như lốc xoáy một cách tự nhiên, không tác ý. Những lúc như thế, hành giả cứ để tự nhiên mà dụng công, đừng khởi nghĩ, lo sợ. Lại có lúc chỉ một niệm khán – nghi mà như ghì lại, từng từ trong câu thoại đầu khởi lên rất khó khăn. Trong tình huống này, hành giả cố khởi lên từng từ một chứ đừng buông, hết từ này sang từ khác trong câu thoại, đồng thời trụ nghi tình. Cứ thế dụng công, đừng nghĩ ngợi gì. Lưu ý rằng mỗi sự thay đổi khác với biểu hiện thường ngày (khán nhanh hơn hay chậm hơn bình thường) đều ẩn chứa nhiều thiền vị, hành giả không nên lo lắng, ưu tư… mà chỉ cần thật chú tâm chuyên nhất nơi mỗi niệm khán – nghi là tốt nhất.

Khi công phu thật sự thuần thục thì chưa khởi câu thoại, tâm liền nghi. Thậm chí nghi tình thường trực nơi mỗi từ khởi lên trong câu thoại. Thân có lúc cảm giác như pho tượng, bất động. Đến khi nghi tình miên mật thành khối thì hành giả gần như hoàn toàn “không biết” đến mọi diễn biến nơi thân tâm và thế giới xung quanh.

vo-niem-tam-muoi

Tiếp tục dụng công theo thời gian, câu thoại đầu dần dần biến mất từng từ một cho đến khi mất hẳn. Lúc này, có muốn khởi câu thoại đầu lên cũng không được, hành giả đạt đến trạng thái Vô Niệm (như Niệm Phật Tam Muội), kiến Tự Tánh Phật. Lúc ấy, thiền mà “không biết” mình thiền, vô ngã – vô pháp, gọi là chơn thiền vậy! Tuy nhiên, Vô Niệm cũng có nhiều tầng bậc sâu dày nên khuyên hành giả đừng buông bỏ nghi tình. Dẫu không thể khởi câu thoại đầu lên được nữa thì tâm hãy cứ trụ nơi nghi tình, miên mật như thế.

3. Những điều lưu ý

–   Hành giả phải thanh lọc tâm trước khi tham thiền. Nếu tâm nhiều tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến… thì khi dụng công, vọng tưởng tạp niệm khởi lên như thác đổ, rất khó điều phục nhiếp tâm. Hơn nữa, ma cảnh hiện ra dẫn dắt lại sanh tâm ưa thích, do vô minh chấp ngã tướng nặng nề nên nhận “giả” làm “chơn”, nhận giặc làm cha mà sanh tà kiến ngộ nhận mình “đắc pháp”, là Thánh nhơn giáng thế… Chẳng lâu sau sẽ bị tẩu hỏa nhập Ma, nếu chẳng có duyên lành gặp Bậc chơn tu cứu giúp thì cả đời tu xem như lạc vào Ma đạo, huệ mạng không còn thật tội lắm thay. Do đó, đừng nghĩ rằng ai cũng tu Thiền được, hễ ưa thích thì cứ tham thiền mà lầm lẫn, vì lợi bất cập hại. Rõ thấy, phải tịnh tâm – tịnh nghiệp chính là điều kiện tiên quyết cần yếu cho sự hành thiền giác ngộ.

tham-to-su-thien

–   Muốn tịnh tâm – tịnh nghiệp, hành giả phải thực hành niệm Phật. Nói cách khác, hành giả phải công phu niệm Phật trước, cho đến khi tâm ý nhu hòa, lắng trong, đối với vọng niệm trong tâm ít nhiều có thể tự điều phục được thì hành giả có thể tùy tâm mà quyết định: hoặc cả đời chỉ chuyên tu niệm Phật; hoặc tự tâm chuyển sang tham thiền; hoặc kết hợp vừa tham thiền vừa niệm Phật. Có ý kiến cho rằng Cổ-đức khuyên chỉ nên chuyên nhất một pháp môn, điều này đúng với đa số người tu thời nay nhưng không bao quát bởi căn trí chúng sanh chẳng đồng, nghiệp lực sai biệt. Người có nghiệp lực nặng nề, chỉ nên niệm Phật để “tịnh” tâm. Người có căn duyên với Phật Pháp nhiều đời, tâm nhàm chán sanh tử, muốn tầm về Tự Tánh thì nên tham thiền để trực chỉ chơn-tâm. Người căn trí thượng thừa thì có thể kết hợp tham thiền và niệm Phật. Thậm chí, người với tâm Từ Bi vô lượng nguyện độ tận tất cả chúng sanh trong thập phương tam cõi, khế hợp với tâm – hạnh – nguyện Chư Phật khắp 10 phương, họ còn kết hợp cả ba Thiền – Tịnh – Mật trong mỗi thời công phu vô ngại. Tuy nhiên, hành giả nên lưu ý là “tự tâm” mình khởi ý nguyện công phu theo hướng nào trong các hướng trên chứ không hề tác ý do vọng muốn, ưa thích… thường tình.

tanh-khong-2

–   Tham thiền trọng yếu ở nghi tình, với mọi sự tâm không chấp trước. “Vô cầu, vô đắc, vô trụ” là kim chỉ nam cho sự hành thiền. Nghi tình giúp quét sạch mọi nghiệp thức và tri kiến thường tình ở thế gian. Do đó, kiến – văn – giác – tri là chướng, là tâm bệnh mà người tu thường hay dính mắc, nhất là người xuất gia. Kiến thức Phật Pháp càng nhiều càng chướng ngại cho sự tu hành giác ngộ (sở tri chướng). “Pháp Phật còn buông bỏ, huống gì Phi Pháp” là nghĩa này. Có vị khi luận đạo liền đem sở học ra nói thao thao bất tuyệt, nhưng khi luận công phu thực hành thì chẳng nói được. Lại có vị công phu lâu năm nhưng chấp pháp nặng nề, cho rằng tham thiền là nhất, còn pháp môn khác chỉ dành cho kẻ hạ căn, cuối cùng thành kẻ phỉ báng Phật Pháp mà mang tội. Lại có vị vì kiến chấp, thường mang công phu của mình/người ra đối chiếu lại với lời giảng của tiền nhân xem mình/người tu đến đâu, để rồi nếu không giống thì lại mù mờ cho rằng mình/người tu chưa tới (?). Họ chẳng biết rằng do căn tánh chẳng đồng, nghiệp lực sai biệt nên dù tu cùng một pháp môn nhưng vẫn có những biểu hiện dị biệt, không ai giống ai cả. Lại có vị chấp ngã, nghĩ mình tu lâu năm hơn thì công phu thành tựu cao hơn người khác (?) mà ngã mạn, coi thường kẻ hậu học (xem gương Đức Lục Tổ Huệ Năng). Lại có vị bị tẩu hoả nhập Ma bởi tâm vọng cầu, chấp trước nên bị dẫn dắt… Đấy là những “thiền bệnh” mà người tu Thiền nên tránh. Chỉ cần mặc chiếu nghi tình, với mọi sự “không biết” là tốt nhất. 

*** TÓM LẠI

Đó là tất cả những gì bản thân hành giả đã trải nghiệm qua khi tham Tổ Sư Thiền, nay tự thuật Pháp hành, chia sẻ kinh nghiệm, mong lợi lạc cho sự hành thiền của Đại chúng. Căn bản Phật Pháp đã biết rồi thì hãy tu đi, đừng vướng mắc, chấp trước vào ngã – pháp. “Tham” đến lúc chẳng biết mình đang “tham” thì chắc chắn có ngày thành tựu Vô Niệm, trực chỉ Chơn tâm – kiến Tự Tánh Phật.

Khi chưa có Trời Đất, ta là gì? Không biết…

Cổ Thiên

——————————————-

Tham khảo: